Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 08/8/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1981, tại: Cầu K, Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chổ ở: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị S; Vợ trước: Hà Thị T (đã chết); Vợ sau: Trần Thị P, sinh năm 1985 (là bị cáo chung vụ án); Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2005; nhỏ nhất, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
  2. Bị cáo: Trần Thị P, sinh năm 1985, tại: P, Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở: không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Thanh T1 và bà Hồ Thị Mỹ H; Chồng: Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1981 (Bị cáo chung vụ án); Con: 01 người, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

Bị hại:

  1. Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1970
    Nơi cư trú: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  2. Ông Huỳnh Hoàng E, sinh năm 1978
    Nơi cư trú: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  3. Ông Trần Minh N1, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Hạnh D, sinh năm 1991.
    Cùng nơi cư trú: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Ông Bùi Văn Đ có mặt, ông Huỳnh Hoàng E, ông Trần Minh N1 và bà Nguyễn Thị Hạnh D có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 16/10/2020 đến ngày 16/7/2021, vợ chồng Trần Thị PNguyễn Hoàng N đã 03 lần dùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, do Nguyễn Hoàng N lên mạng xã hội thuê người khác (chưa rõ nhân thân) làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để mang đi cầm cố, chiếm đoạt tài sản của người khác, tại phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 06/10/2020, Nguyễn Hoàng N mua xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Grand I10 Sedan 1.2 MT BASE màu trắng, biển kiểm soát 68A-131.12 của vợ chồng ông Cấn Việt H1 và bà Hoàng Thị D1 với giá 280.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H1 và bà D1 đã nhờ ông Võ Quốc H2 đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và đã đã thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh K1 nên hai bên thoả thuận, N sẽ trả cho vợ chồng ông H1, bà Duyên số tiền 80.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng, Nam có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh K1, thay cho ông H1 và bà D1. Sau khi các bên giao dịch xong, đến ngày 16/10/2020, N lên mạng xã hội Facebook cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 16/10/2020, với giá 3.000.000 đồng, nhằm để cho cha vợ của N là ông Trần Thanh T1 xem vì ông T1 cho vợ chồng N tiền để mua xe ô tô. Sau khi làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả xong thì N nói cho P biết. Đến tháng 01/2021, N kêu P sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 để cầm xe ô tô cho ông Huỳnh Hoàng E, P đồng ý, ông Hoàng E thỏa thuận cầm cố xe ô tô với lãi suất 06%/năm, nhưng công chứng hợp đồng chuyển nhượng xe ô tô nhằm đảm bảo tài sản cho ông Hoàng E, ông Hoàng E giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, còn vợ chồng NP giữ xe ô tô. Đến ngày 11/01/2021, N, P và ông Hoàng E đến Văn phòng C, đường C, khu phố A, phường D, thành phố P để công chứng hợp đồng mua bán xe, chuyển nhượng xe ô tô với giá 100.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông Hoàng EN thỏa thuận chỉ thế chấp với số tiền 45.000.000 đồng, nên ông Hoàng E chuyển khoản cho N số tiền 45.000.000 đồng, P đưa ông Hoàng E giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, còn N giữ xe ô tô, do thỏa thuận cầm cố tài sản. Số tiền cầm xe, NP sử dụng vào mục đích tiêu xài sinh hoạt gia đình hết.

- Lần thứ hai: Tháng 02/2021, N tiếp tục lên mạng xã hội Facebook, cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang biển số đăng ký: 68A-131.12, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: GRAND, màu sơn trắng, số khung: S1DAKN028736, số máy: G4LAJM142109, do Phòng C1 Công an tỉnh K cấp ngày 12/6/2019, với giá 3.000.000 đồng, để tên chủ sở hữu phương tiện Trần Thị P. Sau đó, NP sử dụng giấy đăng ký xe ô tô giả trên làm hợp đồng công chứng chuyển nhượng xe ô tô cho ông Bùi Văn Đ, ông Đ giữ giấy đăng ký xe ô tô, còn vợ chồng NP thuê lại xe ô tô trên để sử dụng . Đến ngày 15/3/2021, N, P và ông Đ đến Văn phòng C để công chứng đồng mua bán xe, chuyển nhượng xe ô tô với giá 200.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông Đ đưa N số tiền 200.000.000 đồng, P đưa ông Đ giữ 01 giấy đăng ký xe ô tô giả, còn xe ô tô biển kiểm soát 68A – 131.12 vợ chồng P thuê lại của ông Đ đi lại hàng ngày. Số tiền 200.000.000 đồng NP sử dụng vào mục đích tiêu xài sinh hoạt gia đình hết.

- Lần thứ ba: Trong tháng 7/2021, N tiếp tục lên mạng xã hội Facebook, cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, biển kiểm soát 68A – 131.12 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 12/6/2019 với giá 3.000.000 đồng, để tên chủ phương tiện Trần Thị P (Trần Thị P không biết). Đến ngày 16/7/2021, Nguyễn Hoàng N mang giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 68A – 131.12 giả đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ N, trên đường C, tổ G, khu phố A, phường D, thành phố P do ông Trần Minh N1 làm chủ, để cầm xe ô tô biển kiểm soát 68A – 131.12 với giá 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm. Lúc này, ông Minh N1 đồng ý nhận cầm xe ô tô nói trên do Trần Thị P không có mặt nên Nguyễn Hoàng N đã ký và ghi tên Trần Thị P vào hợp đồng cầm cố tài sản, rồi Nguyễn Hoàng N đưa Trần Minh N1 giữ giấy đăng ký xe ô tô giả. Lần này P không biết việc N1 làm giả và đi cầm cố giấy chứng nhận xe giả. Số tiền cầm xe, N1 sử dụng vào mục đích trả nợ.

Đến tháng 10/2021, Văn phòng C phát hiện có một tên H2 mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, thông tin trên giấy giống với hợp đồng chuyển nhượng xe ô tô giữa ông Đ với P nên nghi ngờ và kiểm tra thì phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà P làm hợp đồng chuyển nhượng giữa ông ĐP là giả nên thông báo cho ông Đ biết. Đến ngày 28/02/2022, ông Trần Minh N1 phát hiện chủ xe ô tô biển kiểm soát 68A – 131.12 là ông Võ Quốc H2. Ông Trần Minh N1 cho rằng vợ chồnNguyễn Hoàng NP đã làm giả giấy đăng ký xe ô tô mang đi cầm cố để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tố giác hành vi của Nguyễn Hoàng NTrần Thị P. Ngày 18/8/2023, Trần Thị P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, đến ngày 23/12/2023, P bị bắt theo quyết định truy nã. Đến ngày 01/4/2024, Nguyễn Hoàng N bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang biển số đăng ký: 68A-131.12, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: GRAND, màu sơn trắng, số khung: S1DAKN028736, số máy: G4LAJM142109, do Phòng C1 Công an tỉnh K cấp ngày 12/6/2019;
  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 16/10/2020;
  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, biển kiểm soát 68A – 131.12 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 12/6/2019;
  • + 01 hợp đồng công chứng số 2931, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2021 (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án);
  • + 01 hợp đồng công chứng số 368, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/01/2021 (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án);
  • + Phiếu thu thập thông tin căn cước công dân mang tên Trần Thị P, sinh ngày 20/7/1985, ĐKTT: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

Đối với điện thoại của Nguyễn Hoàng N sử dụng liên lạc để làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và sử dụng liên lạc để cầm xe ô tô, đã bị hư hỏng và làm mất, nên không xử lý.

  • * Kết luận giám định số 761 ngày 11/8/2022, của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận như sau: Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” số 026211 (ký hiệu A) là giả.
  • * Kết luận giám định số 127 ngày 17/02/2023, của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận như sau: Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, biển số đăng ký: 68A-131.12 (ký hiệu A) là giả.
  • * Kết luận giám định số 347 ngày 21/4/2023, của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận như sau: Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” số: 021262, mang tên Trần Thị P; Địa chỉ: Ấp R, xã H, thành phố P, cấp ngày 16/10/2020 (ký hiệu A) là giả.
  • * Kết luận giám định số 436 ngày 16/5/2023, Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận như sau: Dấu vết đường vân, dưới mục bên A trong hợp đồng công chứng số 2931, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2021; hợp đồng công chứng số 368, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/01/2021 có dòng chữ “tôi đã đọc và đồng ý, chữ ký ghi họ tên Trần Thị P” với các dấu vân tay in ở ô Trỏ Phải trên Phiếu thu thập căn cước công dân do Công an thành phố P ngày 29/3/2021của người tên Trần Thị P, sinh ngày 20/7/1985, ĐKTT: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang là của cùng một người.

Bản cáo trạng số: 125/CT-VKSPQ ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo như sau:

Bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trần Thị P về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

- Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N như sau:

  • Áp dụng điểm b, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, b khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 05 năm đến 06 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N là 08 năm đến 09 năm tù.

- Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị P như sau:

  • Áp dụng điểm b, c khoản 3 Điều 341; điểm s, b khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, b khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị P từ 03 năm đến 04 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo Trần Thị P từ 06 năm đến 07 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng thu giữ như:

  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang biển số đăng ký: 68A-131.12, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: GRAND, màu sơn trắng, số khung: S1DAKN028736, số máy: G4LAJM142109, do Phòng C1 Công an tỉnh K cấp ngày 12/6/2019;
  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 16/10/2020;
  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, biển kiểm soát 68A – 131.12 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 12/6/2019.

(Tất cả đã đưa vào hồ sơ vụ án, đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại ông Bùi Văn Đ số tiền 300.000.000 đồng, bồi thường cho ông Huỳnh Hoàng E số tiền 100.000.000 đồng và bồi thường cho vợ chồng ông Trần Minh N1Nguyễn Thị H3 Duyên số tiền 200.000.000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng làm giả các giấy tờ xe cho bị cáo N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Ông Bùi Văn Đ và ông Huỳnh Hoàng E không yêu cầu Văn phòng C bồi thường.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, vì nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với bị hại Huỳnh Hoàng E, Trần Minh N1, Nguyễn Thị Hạnh D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của Huỳnh Hoàng E, Trần Minh N1, Nguyễn Thị Hạnh D không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt các bị hại trên.

[3] Đánh giá chứng cứ:

Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Hoàng NTrần Thị P tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại trong vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/10/2020 đến ngày 16/7/2021, tại khu phố A và khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Hoàng N đã 03 lần thuê người khác (chưa rõ nhân thân) qua mạng xã hội Facebook làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để mang đi cầm cố cho người khác chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Hoàng N cùng với Trần Thị P đã 02 lần có hành vi gian dối dùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để cầm cố, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Hoàng E, ông Bùi Văn Đ lừa đảo chiếm đoạt số tiền của hai người là 245.000.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Hoàng N còn 01 lần cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cho ông Trần Minh N1 và bà Nguyễn Thị Hạnh D lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 125/CT–VKSPQ ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm b, c khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp: “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên”) và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng).

Bị cáo Trần Thị P bị truy tố về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm b, c khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp: “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên”) và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 125/CT-VKSPQ ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo về các hành vi trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là trái pháp luật xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vì cần có tiền để trang trải cuộc sống mà các bị cáo có ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, nên Hội đồng xét xử nghị cần xử các bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[5] Xét vai trò của từng bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Hoàng N là người có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người liên hệ, cung cấp thông tin thuê các đối tượng làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, sau khi có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, bị cáo đã bàn với vợ là Trần Thị P dùng những giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả này đi cầm cố thế chấp, chuyển nhượng và chiếm đoạt tiền của người bị hại, nên bị cáo là người có vai trò chính trong vụ án.

Bị cáo Trần Thị P và bị cáo Nguyễn Hoàng N là vợ chồng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, trong thời gian chung sống, bị cáo N nói cho P biết việc N thuê người làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và để tên trên giấy chứng nhận xe ô tô giả là Trần Thị P. Khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, N nói cho P biết và bàn với P dùng những giấy chứng nhận xe ô tô giả này đi lừa đảo, chiếm đoạt tiền của các bị hại, vì thương chồng nên bị cáo không ngăn cản mà đồng ý, do đó bị cáo là đồng phạm, có vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với hai tội danh cho các bị cáo.

Ngoài ra, Các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt cho các bị cáo được áp dụng đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, hai bị cáo là vợ chồng có với nhau một người con chung, sinh năm 2020, hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nhà để ở, bị cáo P đang bị tạm giam, bị cáo N đang đi làm để nuôi con do đó cũng cần xem xét một mức hình phạt vừa có tính răn đe nhưng cũng tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hoà nhập cộng đồng để nuôi con còn nhỏ, thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng thu giữ như: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang biển số đăng ký: 68A-131.12, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: GRAND, màu sơn trắng, số khung: S1DAKN028736, số máy: G4LAJM142109, do Phòng C1 Công an tỉnh K cấp ngày 12/6/2019; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 16/10/2020; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, biển kiểm soát 68A – 131.12 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 12/6/2019 đã được kết luận là giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nên đưa vào hồ sơ vụ án, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại ông Bùi Văn Đ số tiền 300.000.000 đồng, bồi thường cho ông Huỳnh Hoàng E số tiền 100.000.000 đồng và bồi thường cho vợ chồng ông Trần Minh N1Nguyễn Thị H3 Duyên số tiền 200.000.000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc:

Về tội danh, điều luật áp dụng, về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với mức hình phạt như HĐXX đã nhận định ở trên cần xem xét giảm một mức hình phạt nhẹ hơn đối với các bị cáo.

[9] Đối với đối tượng làm giả các giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho bị cáo N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

[10] Về án phí:

Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự.

- Căn cứ vào điểm b, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Làm giả, Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng N 03 (Ba) năm tù.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, b khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng N 03 (Ba) năm tù.

Căn cứ Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh nêu trên là 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.

- Căn cứ vào điểm b, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Trần Thị P 03 (Ba) năm tù.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, b khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Trần Thị P 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Trần Thị P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh nêu trên là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo, bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng thu giữ như: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, tên chủ xe: Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang biển số đăng ký: 68A-131.12, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: GRAND, màu sơn trắng, số khung: S1DAKN028736, số máy: G4LAJM142109, do Phòng C1 Công an tỉnh K cấp ngày 12/6/2019; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021262, biển kiểm soát 68A – 106.46 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 16/10/2020; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026211, biển kiểm soát 68A – 131.12 mang tên Trần Thị P, địa chỉ: ấp R, xã H, thành phố P, nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, cấp ngày 12/6/2019 đã được kết luận là giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nên đưa vào hồ sơ vụ án, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại ông Bùi Văn Đ, ông Huỳnh Hoàng E và vợ chồng ông Trần Minh N1, bà Nguyễn Thị Hạnh D, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng NTrần Thị P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Nguyễn Hoàng NTrần Thị P, bị hại Bùi Văn Đ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Huỳnh Hoàng E, ông Trần Minh N1 và bà Nguyễn Thị Hạnh D vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - Chi cục T.H.A Dân sự TP. Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Phú Quốc;
  • - Đội tổng hợp Công an TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hồng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng N và Trần Thị P bị xét xử về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger