Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 10-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân và ông Nguyễn Văn Tuyên.

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1999, tại tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; nơi ĐKNKTT: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký tạm trú: Tổ E phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức T và bà Nguyễn Thị Q; bị cáo chưa có vợ, con;tiền án: 01 - tại Bản án số 10/2023/HSST, ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: E D, Tổ B, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn Đ đã nảy sinh việc mua ma túy về bán kiếm lời. Thông qua bạn bè người xã hội, Đ có được số điện thoại của một người tên K (không rõ nhân thân, lai lịch; ở thành phố Hồ Chí Minh) là người bán ma túy. Vào chiều ngày 19/12/2023, Đ gọi điện thoại cho K đặt mua 08 viên ma túy thuốc Lắc và 01 bì ma túy Khay với giá 10.000.000 đồng, K đồng ý nên Đ chuyển khoản tiền mua ma túy trước cho K. Sau khi nhận được tiền thì K gửi ma túy qua xe ô tô khách cho Đ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ đi bộ đến một điểm chuyển tiền nhanh trên đường L, thành phố P (không xác định được vị trí) chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản (do K đọc cho Đ). Đến 07 giờ sáng ngày 20/12/2023, Đ nhận được cuộc gọi điện thoại nói ra trước Cổng bến xe Đ để nhận hàng; biết là ma túy đã được K gửi về nên Đ đi bộ ra đường N đón xe thồ của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến khu vực cổng bến xe Đ, Đ đứng chờ một lúc thì có một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) từ trên xe ô tô khách (không rõ hãng xe, biển số xe) đi xuống đưa cho Đ 01 bì nilon màu đen quấn bằng keo màu vàng. Sau đó, Đ đón xe thồ của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực bến xe chở Đ về lại khu nhà trọ tại B đường N, thành phố P. Khi vào phòng trọ, Đ mở bì nilon ra kiểm tra, thấy bên trong có 08 viên ma túy dạng kẹo màu trắng và 01 bì nilon chứa ma túy K1 và Đ đã cất giấu vào túi quần mặc trên người, với mục đích tìm người mua để bán. Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Đ mang theo trong người só ma túy nêu trên và đang đi bộ trên đường N (đoạn trước số nhà A) thuộc Tổ B, phường D, thành phố P, với mục đích tìm người mua ma túy để bán thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường D bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng, gồm: 01 bì nilon bên trong chứa 08 viên nén màu trắng và 01 bì nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám kèm sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 92488 1319). Đ khai: Dự định bán 01 viên ma túy dạng kẹo với giá 300.000 đồng và bán toàn bộ số ma túy Khay với giá 10.000.000 đồng.

Qua trưng cầu, tại bản Kết luận giám định số 34/KL-KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2023 của phòng K2 - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục mẫu cần giám định) là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 4,4571 gam; 08 viên nén màu trắng trong 01 gói nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 2,9789 gam”.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám cùng sim số đã thu giữ là của bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma túy.

Vật chứng của vụ án, gồm:

  • Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 34/PC09 ngày 28/12/2023 có dấu niêm phong của phòng K2 - Công an tỉnh G;
  • 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám kèm sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 92488 1319).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 34/PC09 ngày 28/12/2023 có dấu niêm phong của phòng K2 - Công an tỉnh G và sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 92488 1319). Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám.

Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, tại khu vực đường trước số nhà A đường N, tổ B, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai khi Nguyễn Văn Đ đang tàng trữ 01 bì nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 01 gói nilon chứa 08 viên nén màu trắng, với mục để bán ma túy kiếm lời thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường D, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng cùng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám kèm sim số mà Đ đã sử dụng vào việc phạm tội.

Qua giám định, xác định: Số ma túy bị cáo Nguyễn Văn Đ đã tàng trữ để bán, gồm: 08 viên nén màu trắng là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 2,9789 gam và 01 gói nilon bên trong có chất màu trắng dạng tinh thể là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng 4,4571 gam.

Hành vi tàng trữ 2,9789 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 4,4571 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán lại kiểm lời như đã nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hai chất MDMA và Ketamine là các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 251 Bộ luật Hình sự và đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của 02 chất ma túy mà bị cáo Nguyễn Văn Đ tàng trữ để bán so với mức tối thiểu của từng chất đó được quy định tại các điểm i và n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là dưới 100%. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội

“Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu, bị cáo đã bị kết án tại Bản án số 10/2023/HSST, ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đó là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là thanh niên có sức khỏe nhưng chỉ vì muốn có tiền nhanh chóng mà không phải lao động vất vả nên bị cáo đã tàng trữ 2,9789 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 4,4571 gam ma túy loại Ketamine, với mục đích để bán sinh lợi, bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của việc mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã coi thường pháp luật, gieo rắc và phát tán chất ma tuý cho mọi người. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng, mức độ nghiện ma tuý của người khác và phát sinh các tội phạm chung.

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Đối với đối tượng tên K là người mà bị cáo Đ khai đã bán ma túy và người đàn ông đã giao ma túy cho Đ. Do bị cáo Đ không biết được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký của chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo Đ nhưng do sau khi liên lạc Đ đã xóa nhật ký, nên không xác định được số điện thoại và nội dung liên quan nên chưa có cơ sở để điều tra, xử lý. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có cơ sở.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 34/PC09 ngày 28/12/2023 có dấu niêm phong của phòng K2 - Công an tỉnh G; sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 92488 1319). Xét vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám thuộc sở hữu của Nguyễn Văn Đ. Xét vật chứng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn Đồng phạm t “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.

3. Về vật chứng: Tuyên:

  • Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám.
  • Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 34/PC09 ngày 28/12/2023 có dấu niêm phong của phòng K2 - Công an tỉnh G; 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 92488 1319).

Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/6/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/7/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan Thi hành án tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan điều tra - Công an TP. Pleiku;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an TP. Pleiku;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ/VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger