|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 128/2024/DS-ST Ngày: 07/5/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc S, sinh năm 1994; thường trú: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ liên hệ: 438 N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1999; địa chỉ: phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và ông Hà Huy K, sinh năm 2000; địa chỉ: 5 H, khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 27/6/2023). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Xuân T, sinh năm 1980 và bà Đào Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: D, tổ C, khu đô thị P, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày:
Bà Trần Thị Ngọc S có quan hệ quen biết vợ chồng bà Đào Thị L và ông Lê Xuân T. Ngày 31/10/2022 bà S có cho vợ chồng bà L, ông T vay tiền, tổng số tiền là 300.000.000 đồng, mục đích vay để xây nhà. Hai bên có ký giấy vay tiền đề ngày 31/10/2022, mẫu giấy vay tiền do bà S đưa ra, ông T là người trực tiếp điền các thông tin vào giấy vay tiền. Theo giấy vay tiền ghi nhận bà L và ông T vay bà S số tiền 300.000.000 đồng, hai bên thoả thuận thời hạn trả tiền là 2 tháng, lãi suất tự thỏa thuận, tuy nhiên trong giấy vay tiền không thể hiện. Bà S đã giao tổng số tiền 300.000.000 đồng cho bà L, ông Thành đồng t bà L và ông T ký tên vào Giấy vay tiền.
Sau khi vay tiền thì bà L, ông T không trả tiền gốc và chưa đóng lãi cho bà S. Bà S liên hệ đòi tiền nhưng không được. Ngày 04/12/2023 bà S có gửi Thông báo đòi tiền đề ngày 27/11/2023 cho ông T, bà L, theo đó yêu cầu ông T, bà L thanh toán toàn bộ khoản tiền nhưng đến nay bà L, ông T vẫn không trả tiền cho bà S.
Theo đơn khởi kiện, bà S yêu cầu ông T, bà L trả số tiền vay là 300.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 31/10/2022 đến ngày 31/08/2023 tạm tính 10 tháng: 300.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 10 tháng = 25.000.000 đồng. Tổng cộng: 325.000.000 đồng.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 07/5/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu ông T, bà L trả toàn bộ tiền vay là 300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L: Ông T và bà L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến Tòa án tự khai trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng trong suốt quá trình tố tụng bị đơn đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định.
3
Về nội dung: Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Lê Xuân T, bà Đào Thị L đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa vào các ngày 12/4/2024, 07/5/2024 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định của Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S khởi kiện yêu cầu ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L trả số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Chứng cứ do nguyên đơn xuất trình là bản chính Giấy vay tiền đề ngày 31/10/2022. Nội dung Giấy vay tiền thể hiện: Ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L tự nguyện vay của bà Trần Thị Ngọc S số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), mục đích vay: xây nhà. Tại Giấy vay tiền có lăn tay, chữ ký tên Lê Xuân T, Đào Thị L và chữ viết xác nhận đã nhận đủ tiền. Nguyên đơn trình bày sau khi nhận tiền bị đơn không trả gốc và lãi như thỏa thuận. Quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo cho bị đơn về việc thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do đồng thời không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện việc phản đối yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Có căn cứ xác định việc vay tiền là có thật, nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay nhưng bị đơn không trả là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vay 300.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp không thể hiện lãi suất, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
4
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L.
Buộc ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L trả cho bà Trần Thị Ngọc S số tiền vay 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Xuân T và bà Đào Thị L phải chịu 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Trần Thị Ngọc S 8.125.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001486, ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngân |
Bản án số 128/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 128/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Trần Thị Ngọc S và bị đơn Lê Xuân T
