Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 06 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công;
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Lê T, sinh năm 1983 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lê T1 và bà Lê Thị Q (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023 đến nay, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Tạ Trung T2, sinh năm 1986 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú: 1 khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Trung S và bà Trần Thị L (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 20/10/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị hại: Lâm Minh N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/10/2023, Nguyễn Lê T điều khiển xe đạp nhãn hiệu Martin đi quanh khu vực phường T, thành phố T để tìm tài sản trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Khi T đi qua phía trước nhà số C khu phố B, phường T, thành phố T thì thấy ông Lâm Minh N đang nằm ngủ tại ghế đá trước nhà, trên bụng để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphong 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng. Thấy ông N ngủ say, T lén lút đi đến lấy chiếc điện thoại và điều khiển xe đạp về phòng trọ của T tại khu phố H, phường T, thành phố T cất giấu. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, T đem điện thoại trên đến tiệm sửa chữa, mua bán điện thoại Toàn M, địa chỉ: 1, đường B, khu phố H, phường T, thành phố T bán cho chủ tiệm là bị cáo Tạ Trung T2. Khi T2 kiểm tra điện thoại và hỏi T về nguồn gốc điện thoại thì T nói đây là điện thoại do T trộm của người khác ở khu dân cư T, T2 biết rõ đây là tài sản trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán điện thoại, T đã tiêu xài cá nhân hết. Ông N sau khi ngủ dậy phát hiện bị mất điện thoại nên đã kiểm tra camera trước nhà thì phát hiện có người lấy trộm điện thoại của mình, sau đó ông N đã đến Công an phường T trình báo vụ việc. Đến ngày 13/10/2023, ông N đi trên đường B, khu phố H, phường T, thành phố T thì gặp T có đặc điểm giống người lấy trộm điện thoại của mình nên đã báo Công an phường T mời T về trụ sở làm việc. Cùng ngày 13/10/2023, Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính đối với cơ sở mua bán điện thoại Toàn M. Quá trình kiểm tra, Tạ Trung T2 giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphong 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng. Quá trình làm việc, bị cáo T và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng; 01 chiếc xe đạp màu bạc, nhãn hiệu Martin; 01 nón kết màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen.

Kết luận định giá tài sản ngày 19/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng có giá trị là 15.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 104/CT-VKS-TA ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Lê T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tạ Trung T2 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Trung T2 mức hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe đạp màu bạc, nhãn hiệu Martin của bị cáo T.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 nón kết màu đen, 01 áo thun tay ngắn màu đen của bị cáo T.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Các bị cáo Nguyễn Lê T, Tạ Trung T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[1.2] Bị cáo Nguyễn Lê T, Tạ Trung T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của các bị cáo là tự nguyện phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Các bị cáo thống nhất với Bản kết luận điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/10/2023, tại khu vực trước nhà số C khu phố B, phường T, thành phố T, Nguyễn Lê T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphong 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng của bị hại Lâm Minh N. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo T mang điện thoại trên đến tiệm điện thoại T2 Mobile bán cho bị cáo Tạ Trung T2, T2 biết rõ đây là tài sản trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Lê T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Tạ Trung T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại và khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T2 là lao động chính trong gia đình, phải nuôi con nhỏ, tự nguyện giao nộp tài sản trả lại bị hại đây các là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét thấy, bị cáo Tạ Trung T2 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, do đó việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, dung lượng 128Gb, màu trắng là tài sản của ông Lâm Minh N. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông Nghĩa 1 có căn cứ.
  • Đối với 01 chiếc xe đạp màu bạc, nhãn hiệu Martin bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 nón kết màu đen, 01 áo thun tay ngắn màu đen là tài sản của bị cáo T, bị cáo không có ý kiến gì và các tài sản trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 48 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê T;
  • Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 48; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Trung T2;
  • Các Điều 106, 136, 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

    Tuyên bố bị cáo Tạ Trung T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023.

    Xử phạt bị cáo Tạ Trung T2 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thác là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên theo quy định của Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
  4. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe đạp màu bạc, nhãn hiệu Martin của bị cáo T.

    Tịch thu tiêu hủy 01 nón kết màu đen, 01 áo thun tay ngắn màu đen của bị cáo T.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/02/2024).

  5. Về án phí:
  6. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Công an TP.Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Ngọc Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HÌNH SỰ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger