Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 128/2024/HS-PT
Ngày: 05-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Trần Minh Hải;
  2. Ông Đào Chí Keo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Thị L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 205/2024/QĐXXPT-HS ngày 19/8/2024:

Bị cáo kháng cáo:

Hồ Thị L, sinh năm 1981; nơi sinh: thành phố B, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Hồ Văn V và bà Trương Thị H; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

(Ngoài ra trong vụ án này các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N và Hồ Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nên Ngồi và L không sống chung với nhau. Đến tháng 04/2022, N và L hàn gắn lại tình cảm và thuê phòng trọ số 01 nhà trọ “Mỹ Chỉ” thuộc tổ B, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang để sống chung với nhau.

Khoảng đầu tháng 06/2022, N vay của bà Trương Thị H (mẹ ruột L) số tiền 70.000.000 đồng. Đến giữa tháng 09/2022, N và L lại xảy ra mâu thuẫn với nhau nên L bỏ về nhà bà H tại tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre sinh sống.

Đến cuối tháng 9/2022, N đến gặp bà H hẹn đến ngày 08/10/2022 sẽ trả trước cho bà H 35.000.000 đồng, còn lại 35.000.000 đồng đến Tết Nguyên đán năm 2023 sẽ trả đủ. Đến ngày 08/10/2022, do không thấy N đến trả tiền nên Hồ Thị P (chị ruột L), Trần Tấn P1 (con ruột P) và C (không rõ họ tên là bạn của P) thuê xe ô tô đến thành phố C để viếng Miếu B Xứ N, nên Hồ Thị L đi theo tìm N để đòi tiền.

Đến khoảng 19 giờ ngày 10/10/2022, L, P, P1 và C đến nhà trọ “Mỹ Chi” thì gặp Nguyễn Văn H1 chủ nhà trọ, L hỏi H1 thì biết được N vẫn còn thuê phòng trọ số 01 của nhà trọ “Mỹ Chi”, L dùng chìa khóa (còn giữ khi sống chung với N), mở cửa rào và cửa phòng đi vào bên trong phòng, P1 đi theo sau, P và C đứng bên ngoài. L đi vào phòng kéo niệm ngủ lên lấy 26.500.000 đồng cất vào túi quần. Thấy trong phòng còn có 01 xe mô tô loại Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 và 01 xe mô tô, loại Cub 50, biển số 71FD – 1435 có gắn sẵn chìa khóa nên L nói với P1 “Chỉ có lấy 02 xe mô tô thì N mới trả tiền” P1 đồng ý, L lấy xe Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 dẫn ra ngoài trước, P1 lấy xe Cub 50, biển số 71FD – 1435 đi sau. Sau đó L và P1 điều khiển xe chạy đến trạm xe H2 tại thành phố C để gửi 02 xe mô tô trên về thành phố B. Tiếp tục, L quay lại nhà trọ Mỹ C1 lấy đồ dùng cá nhân của L thì gặp N, L nói cho N biết L đã lấy tiền và 02 xe mô tô của N, N muốn lấy lại tài sản thì đến nhà bà H trả đủ tiền đã vay, nói xong L, P1, P, C lên xe ô tô đi về.

Từ ngày 11/10/2022 đến ngày 17/10/2022, N nhiều lần đến nhà bà H gặp L và H và đã trả đủ số tiền 70.000.000 đồng đã vay. Yêu cầu L trả 02 xe mô tô nhưng L không đồng ý. L yêu cầu N đưa thêm 50.000.000 đồng thì L mới trả xe.

Ngày 24/10/2022, N đem 40.000.000 đồng đến nhà L, thì L nói dối đã đem xe Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 đi cầm với số tiền 50.000.000 đồng, yêu cầu N phải đưa đủ 50.000.000 đồng để L đi chuộc xe, Ngồi năn nỉ thì L đồng ý nhận 40.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L nói dối là chủ cầm xe đã đi đám không chuộc xe lại được. Ngồi yêu cầu L trả lại 40.000.000 đồng, nhưng L không trả. Ngày 30/10/2022, N đến Công an phường V trình báo vụ việc trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu sơn đỏ đen, số khung: RLHJK0117MZ004702, số máy: JK01E0132659, biển số: 71B4 – 579.07, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 71010696 (đã trả lại cho Nguyễn Văn N);

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu xanh, số khung: 8060721, số máy: 8061150, biển số 71FD - 1435, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0042168, tên chủ xe Lê Văn T, biển số 71FD - 1435; 01 ổ khóa hiệu HENGCHAN, sơn màu vàng, đã rỉ sét, đã qua sử dụng; 01 chùm chìa khóa gồm có 04 chìa, đã qua sử dụng.

Căn cứ các Kết luận định giá tài sản 99/KL - ĐG ngày 04/01/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:

- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 71B4 – 579.07, đã qua sử dụng. Tỷ lệ sử dụng còn lại 70%; giá trị thiệt hại 42.000.000 đồng.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Cub 50, biển số 71FD – 1435, đã qua sử dụng. Tỷ lệ sử dụng còn lại 40%; giá trị thiệt hại 4.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Hồ Thị L, Trần Tấn P1.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSCĐ-HS ngày 22/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự và Trần Tấn P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản";

Xử phạt bị cáo Hồ Thị L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo L phải chấp hình phạt chung là 3 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo L được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Tấn P1 08 (tám) tháng 07 (bảy) ngày tù, bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo P1, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/6/2024 bị cáo Hồ Thị L kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Thị L thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Hồ Thị L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù, cụ thể: đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Thị L 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Hình phạt của 02 tội bị cáo phải chấp hành là 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Hồ Thị L nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Hồ Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai bị cáo Trần Tấn P1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 10/10/2022 bị cáo đã có hành vi lén lút dùng chìa khóa mở cửa rào và cửa phòng của bị hại Nguyễn Văn N, lén lút chiếm đoạt số tiền 26.500.000 đồng và cùng Trần Tấn P1 lấy trộm 02 xe mô tô của Nguyễn Văn N có giá trị 46.000.000 đồng. Không dừng lại ở đó, bị cáo còn uy hiếp tinh thần bị hại chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Thị L thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Hồ Thị L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo hiện có một con nhỏ sinh năm 2024; giai đoạn điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha là người có công với nước; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Đây là cơ hội để bị cáo yên tâm cải tạo và phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Như vậy, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Hồ Thị L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024 /HS-ST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản”;

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Thị L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo L phải chấp hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo L được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hồ Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Châu Đốc;
  • - TAND thành phố Châu Đốc;
  • - CQCSĐT thành phố Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Châu Đốc;
  • - Bị cáo;
  • - PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản và cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 128/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger