|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 128/2024/DS-ST Ngày 05 - 6 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sĩ Hùng
Ông Tạ Bửu Thương
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 628/2023/TLST- DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng cầm cố, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST- DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần S (tên cũ là Công ty TNHH S1); Địa chỉ cư trú: Số A đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh Hồng Đ, sinh năm 1995 – Giám đốc chi nhánh C Theo Giấy ủy quyền số 02-08/2023/UQ-SVN ngày 25/8/2023 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm: 1958; Địa chỉ cư trú: Số B, đường L, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: Số B, đường L, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, do bà Trịnh Hồng Đ – Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/7/2022 bà Nguyễn Thị Hồng L ký hợp đồng với Công ty TNHH S1 chi nhánh C cầm cố 01 xe mô tô hai bánh Biển kiểm soát 69B1-484.63, loại SH mode màu Bạc Đen, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Thị Hồng L do Công an tỉnh C cấp ngày 24/02/2020 để vay số tiền 24.400.000 đồng, thời hạn cầm 12 tháng, lãi suất thỏa thuận 1,1%/tháng và các khoản phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng, ngoài ra khi thanh toán quá hạn bà L còn phải chịu phí phạt bằng 150% lãi trong hạn. Công ty đã giao đủ tiền và nhận xe. Do bà L có nhu cầu đi lại nên Công ty đồng ý cho bà L mượn lại xe, thời gian mượn xe từ ngày 01/7/2022 đến ngày 01/8/2022. Quá trình trả nợ, bà L đã vi phạm hợp đồng không thanh toán nợ gốc và lãi đúng thỏa thuận.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 20/3/2024 tổng cộng 31.874.000 đồng, trong đó nợ gốc 16.780.000 đồng, lãi trong hạn 1.471.589 đồng (tính từ ngày 05/12/2022 đến ngày 15/12/2023, tính tròn 12 tháng), và lãi quá hạn là 8.854.434 đồng, phí hao mòn cho mượn xe là 4.099.200 đồng, phí quản lý hồ sơ theo hợp đồng 668.904 đồng, ngoài ra bà L còn chịu các khoản lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng cầm cố đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp bà L không trả nợ thì buộc bà L giao xe cho Công ty xử lý thu hồi nợ.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng L trả số tiền gốc cầm cố xe còn nợ là 16.780.000đ và lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 01/12/2022 đến ngày xét xử là 18 tháng với số tiền lãi là 3.322.000đ. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thanh N đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, xét thấy việc thay đổi yêu cầu phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Ngày 01/7/2022 giữa nguyên đơn với bị đơn ký hợp đồng cầm cố 01 xe mô tô hai bánh Biển kiểm soát 69B1-484.63, loại SH Mode màu Bạc Đen do bị đơn đứng tên quyền sở hữu, với số tiền 24.400.000 đồng, lãi suất 1,1%/tháng, thời hạn 12 tháng theo hợp đồng là có thực tế. Việc cầm cố tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm. Sau khi ký hợp đồng, bị đơn ký giấy mượn lại xe, thời hạn 30 ngày, phí bão dưỡng, hao mòn xe là 512.400đồng/tháng. Đến ngày 01/12/2022 bị đơn vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L đã được Toà án tống đạt văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi đến Toà án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng cầm cố được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn cũng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bà L có trách nhiệm trả số nợ gốc còn lại là 16.780.000đ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Xét về yêu cầu tính lãi, nguyên đơn yêu cầu lãi suất theo hợp đồng là 1,1% từ ngày vi phạm là ngày 01/12/2022 đến ngày xét xử làm tròn 18 tháng với số tiền 3.322.000đ là phù hợp với quy định nên được chấp nhận.
Như vậy, tổng gốc và lãi bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn là 16.780.000 + 3.322.000 = 20.102.000₫.
Nguyên đơn phải trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy Biển kiểm soát 69B1-484.63, loại SH mode màu Bạc Đen, tên Nguyễn Thị Hồng L do Công an tỉnh C cấp ngày 24/02/2020 cho bị đơn khi bị đơn thanh toán nợ xong cho Công ty.
[4] Tại phiên toà, đại diện nguyên đơn không yêu cầu trách nhiệm đối với bà N và không yêu cầu bị đơn trả các khoản lãi, phí và trả lại xe nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 143, 147, 227, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 309, 313, 314, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1). Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L phải thanh toán cho Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1) số tiền 20.102.000đồng.
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Công ty cổ phần S (Công ty TNHH S1) phải trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy Biển kiểm soát 69B1-484.63, loại SH mode màu Bạc Đen, tên Nguyễn Thị Hồng L do Công an tỉnh C cấp ngày 24/02/2020 cho bà L khi bà L thanh toán nợ xong cho Công ty.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu 1.005.000đồng. Nguyên đơn không phải nộp án phí, ngày 30/10/2023 nguyên đơn đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 626.000 đồng theo biên lai thu số 0008572 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 128/2024/DS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Số bản án: 128/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cầm cố
