Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS - ST

Ngày 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Đăng

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tháp - Kiểm sát viên

Ngày 04-7-2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST - HS ngày 20 tháng 6 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mông Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1999 tại tỉnh Lạng Sơn; HKTT: Xóm Đ, xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Mông Văn T; Mẹ đẻ: Đỗ Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Đỗ Văn Đại D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000 tại tỉnh Bắc Ninh; HKTT: số nhà D đường Đ, khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Đỗ Văn Đ1; Mẹ đẻ: Trần Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

3. Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Nguyễn Văn T2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T3 thành phố Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h00' ngày 08/4/2024, tổ công tác Công an xã X phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại đường B thuộc địa bàn thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội phát hiện Đỗ Văn Đại D – sinh năm 2000, ở số nhà D đường Đ, khu K, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 99AA-065.62 chở Mông Văn Đ – sinh năm 1999, ở xóm Đ, xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính. Tại đây, Mông Văn Đ tự nguyện giao nộp từ túi quần phía trước bên trái 01 hộp thuốc lá có chữ “Raison” bên trong chứa 10 điếu thuốc có chứa thảo mộc khô và 03 túi ni lông kích thước 4x7cm có chứa thảo mộc khô nghi là chất ma túy. Đỗ Văn Đại D và Mông Văn Đ khai đang đem ma túy đi bán nên đã tiến hành lập biên bản và bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Quá trình điều tra xác định: Cuối tháng 3/2024, Đỗ Văn Đại D lên mạng xã hội Facebook đặt mua được của một nam thanh niên có tài khoản “Lê Thắng” 10 điếu thuốc lá C và 03 gói Tobaco với giá 400.000 đồng, giao dịch tại khu vực phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi mua được ma túy, D bàn bạc với Mông Văn Đ đăng bài trên mạng xã hội về việc có bán ma túy dưới dạng thuốc lá C và gói Tobaco. Khoảng 13h00' ngày 08/4/2024, khi D và Đ đang ở nhà trọ của Đ tại địa chỉ thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, một nam thanh niên sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Tiệp Paul” nhắn tin với tài khoản Facebook “nick bị khóa” của Đ đặt mua 10 điếu thuốc Chill và 03 gói Tobaco. D bảo Đ báo giá 10 điếu thuốc Chill và 03 gói Tobaco là 1.000.000 đồng và sẽ giao dịch tại xã X, huyện S, thành phố Hà Nội. Lúc này, D lấy thêm thuốc lá sợi trộn thêm vào 03 gói Tobaco rồi chia làm 03 túi ni lông kích thước 4x7cm đem đi bán và 01 túi ni lông kích thước khoảng 10x15cm để lại phòng trọ bán dần. Sau đó, D điều khiển xe mô tô Honda Wave, BKS: 99AA-065.62 chở Đ đi giao ma túy cho khách. Khi D và Đ đi đến địa phận thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an huyện S kiểm tra, phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện S đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả: Mông Văn Đ và Đỗ Văn Đại D có kết quả âm tính với ma túy.

Tại cơ quan CSĐT - Công an huyện S, Mông Văn Đ và Đỗ Văn Đại D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Tạm giữ của Mông Văn Đ: 01 hộp thuốc lá có chữ RAISON bên trong chứa 10 điếu thuốc lá bên trong chứa thảo mộc khô và 01 túi nilong kích thước 4x7cm bên trong chứa thảo mộc khô (niêm phong ký hiệu A); 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu vàng.
  • - Tạm giữ của Đỗ Văn Đại D: 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu tím; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99AA-065.62.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mông Văn Đ tại thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, kết quả thu giữ: 01 túi ni lông kích thước 10x15cm chứa thảo mộc khô (niêm phong ky hiệu B).

Tại bản kết luận giám định số 2752/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng Kỹ thuật – Công an thành phố H kết luận:

  • - Mẫu niêm phong ký hiệu A có:
    • + Thảo mộc khô bên trong 10 điếu thuốc đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng: 6,384 gam.
    • + Thảo mộc khô bên trong 03 túi ni lông đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng: 5,444 gam.
  • - Mẫu niêm phong ký hiệu B có: Thảo mộc khô bên trong 01 túi ni lông có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng: 28,970 gam.

Quá trình giám định, cơ quan giám định đã lấy 2,468 gam thảo mộc khô bên trong 10 điếu thuốc, 1,814 gam thảo mộc khô bên trong 03 túi ni lông (niêm phong ký hiệu A) và 7,131 gam bên trong túi ni lông (niêm phong ký hiệu B), số còn lại hoàn trả cho cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 3419/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của V - Bộ C1 kết luận:

  • - Mẫu niêm phong ký hiệu A:
    • + Hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 3,630 gam thảo mộc khô (mẫu trong túi ni lông) gửi giám định là 0,4% và 0,014 gam.
    • + Hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 3,916 gam thảo mộc khô (mẫu trong 10 điếu thuốc) gửi giám định là 0,2% và 0,007 gam.
  • - Mẫu niêm phong ký hiệu B: Hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 21,839 gam thảo mộc khô gửi giám định là 0,8% và 0,174 gam.

Toàn bộ vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với nam thanh niên sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Tiệp Paul” hỏi mua ma túy của Mông Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông có tài khoản facbook “Lê Thắng” bán ma túy cho Đỗ Văn Đại D tại khu vực phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 104/CT -VKS ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện S đã truy tố Mông Văn Đ và đồng phạm về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
    • + Mông Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
    • + Đỗ Văn Đại D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp thuốc lá có chữ RAISON bên trong chứa 10 điếu thuốc lá bên trong chứa thảo mộc khô và 01 túi nilong kích thước 4x7cm bên trong chứa thảo mộc khô (niêm phong ký hiệu A);
    • + Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu vàng; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu tím; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99AA-065.62.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  • * Người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày: Nhất trí tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố đối với bị cáo Đ. Tuy nhiên khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến việc bị cáo Đ là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo thuộc hộ nghèo, chưa tiền án tiền sự nên giảm nhẹ mức hình phạt nhẹ ở mức khởi điểm cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
  • * Bị cáo Mông Văn Đ và bị cáo Đỗ Văn Đại D khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện S; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo nhận: Khoảng 15h00' ngày 08/4/2024, tại thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội, Mông Văn Đ và Đỗ Văn Đại D đã có hành vi tàng trữ 0,195 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA nhằm mục đích bán lại để kiếm lời thì bị tổ

công tác Công an xã X phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ vật chứng, tài liệu giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo Mông Văn Đ và Đỗ Văn Đại D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức. Bị cáo D là người bỏ tiền ra mua ma tuý, dùng phương tiện của mình để đi bán ma tuý, phân công Đức tìm kiếm khách mua ma tuý. Bị cáo Đ thì liên hệ với người mua ma tuý và thông báo cho D để cùng đi bán ma tuý. Do đó, vai trò của bị cáo D cao hơn bị cáo Đ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà xác định: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Đ thuộc dân tộc thiểu số và hộ nghèo nên được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

Hành vi mua bán trái phép ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội mà còn làm tăng các tệ nạn về ma túy và các tội phạm khác trên địa bàn huyện S, thành phố Hà Nội, đồng thời còn là vấn nạn mà xã hội đang lên án và đấu tranh nhằm loại trừ. Các Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của cá nhân nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo với một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • + Đối với 01 hộp thuốc lá có chữ RAISON bên trong chứa 10 điếu thuốc lá bên trong chứa thảo mộc khô và 01 túi nilong kích thước 4x7cm bên trong chứa

thảo mộc khô (niêm phong ký hiệu A) là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu huỷ;

  • + Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu vàng; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu tím; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99AA-065.62 dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đ thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn Đại D và Mông Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ.
  • - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D.
  • - Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333;Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử phạt:

1.1. Đỗ Văn Đại D 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.

1.2. Mông Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp thuốc lá có chữ RAISON bên trong chứa 10 điếu thuốc lá bên trong chứa thảo mộc khô và 01 túi nilong kích thước 4x7cm bên trong chứa thảo mộc khô (niêm phong ký hiệu A);
  • + Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu vàng; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu tím; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99AA-065.62.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn Đại D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Miễn án phí cho bị cáo Mông Văn Đ.

5. Án xử công khai sơ thẩm; Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIỀN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS - ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 128/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố mông Văn D và đồng bọn phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger