|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 128/2025/HS-ST Ngày: 24/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Thân; Ông Vương Đình Quang;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2025/TLST-HS ngày 12/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đối với các Bị cáo:
- Họ và tên: Trần Khánh C; Sinh năm 1970; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Số B ngõ F V, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Đức T; Con bà: Nguyễn Thị Kim C1; Gia đình Bị cáo có hai anh em, Bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lương Thị Thanh H; Bị cáo có 03 con (Con lớn sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2011); Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H.
- Họ và tên: Phạm Việt T1; Sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Số C, tổ C T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội; Địa chỉ nơi ở: Số B, ngách F, ngõ C L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Huy Đ; Con bà: Nguyễn Thị H1; Gia đình Bị cáo có 02 anh em, Bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Thanh L; Bị cáo có 02 con (Con lớn sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2021); Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 hủy bỏ Quyết định gia hạn tạm giữ, Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Họ và tên: Trịnh Thị T2; Sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố G, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Địa chỉ nơi ở: P.1201/Tòa HH3.2, FLC Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Văn H2 (Đã chết); Con bà: Lê Thị N; Gia đình Bị cáo có 03 chị em, Bị cáo là con thứ hai; Chồng: Phùng Việt S; Bị cáo có 02 con (Con lớn sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2015); Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 hủy bỏ Quyết định gia hạn tạm giữ, Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Họ và tên: Trương Thị Thu H3; Sinh năm 1977; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT: Tập thể H26 BCA, L, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Địa chỉ nơi ở: Số F, ngách A, ngõ C L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Mạnh T3; Con bà: Lê Thị M; Gia đình Bị cáo có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 03; Chồng: P (Đã ly hôn); Bị cáo có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Trích lục tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 hủy bỏ Quyết định gia hạn tạm giữ, Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị T4; Sinh năm 1953; Nơi đăng ký HKTT: Tập thể H26, tổ dân phố G, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Địa chỉ nơi ở: Số A, số D T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; (Có mặt)
- Anh Dương Đức P; Sinh năm 1982; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 18/12/2024, tổ công tác Đ2 Công an quận N làm nhiệm vụ tuần tra đã tiến hành kiểm tra hành chính tại các quán nước ven đường tại khu vực đường L, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, đã phát hiện:
- - Tại quán nước của Trịnh Thị T2 tại số B đường L đã phát hiện và tạm giữ của T2: 01 tờ giấy lịch có ghi các số lô, số đề T2 ghi bán cho khách ngày 18/12/2024 và 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng;
- - Tại quán nước của bà Nguyễn Thị T4 tại số B đường L đã phát hiện và tạm giữ của bà T4: 01 tờ giấy có ghi số lô, số đề bà T4 ghi cho khách ngày 18/12/2024 và 01 điện thoại Vsmart màu đen. Quá trình kiểm tra tại quán nước của bà Nguyễn Thị T4 phát hiện Nguyễn Kim C2 (Sinh năm 1972; Trú tại: Phường B, quận H, thành phố Hà Nội) và Dương Đức P (Sinh năm 1982; Trú tại: Xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên) đều đang cầm tích kê lô đề. Tại chỗ, C2 và P khai vừa mua số lô, số đề của bà Nguyễn Thị T4.
- - Tại quán nước của Trương Thị Thu H3 tại số B đường L đã phát hiện và tạm giữ của H3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 15 Promax màu trắng của H3 có chứa nội dung liên quan đến việc mua bán số lô, số đề và số tiền 25.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu đồng);
- - Tại quán nước của Phạm Việt T1 cạnh hiệu thuốc Thục Anh tại cổng Bệnh viện Y – Bộ C4, phường T, quận N, Hà Nội, tổ công tác phát hiện T1 đang sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 12 Promax chụp ảnh 01 bảng ghi số lô, số đề, tổ công tác đã tạm giữ của T1: 01 điện thoại di động IPhone 12 Promax màu vàng; 01 bảng lô đề có số 18 khoanh tròn tại góc bên trái và số tiền 4.500.000 đồng (Bằng chữ: Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng);
Tổ công tác đã đưa các đối tượng và người liên quan cùng vật chứng về trụ sở Công an để làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3, Nguyễn Thị T4 và Phạm Việt T1 đầu thú về hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề và khai nhận đã ghi bán số lô, số đề cho khách vãng lai qua đường từ cuối năm 2023 sau đó chuyển bảng ghi số lô, số đề cho Trần Khánh C để hưởng chênh lệch. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Trần Khánh C đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Trần Khánh C đầu thú về hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận bảng ghi các số lô, số đề do Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3 và Nguyễn Thị Thanh C3 để thanh toán thắng thua.
Vật chứng tạm giữ của Trần Khánh C: 01 máy tính bảng SamSung Galaxy Tab S6 màu xám đã qua sử dụng và 01 máy tính bảng SamSung Galaxy màu đen đã qua sử dụng; Tạm giữ của Nguyễn Kim C2: 01 tờ tích kê ghi số lô 27, 72, 33, 88 ngày 18/12/2024; Tạm giữ của Dương Đức P: 01 tờ tích kê màu trắng đỏ, kích thước 5x8(cm) có ghi các số đề: 70, 91, 54, 98 và 01 ví màu ghi kích thước khoảng 15x10(cm).
Qúa trình điều tra xác định: Trần Khánh C làm nghề bán bún chả trên đường L và quen biết với Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3 và bà Nguyễn Thị T4 đều là những người bán hàng nước trên đường L. Đến cuối năm 2023, C bắt đầu đứng ra tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận bảng số lô, số đề của T1, T2, H3 và bà T4 (là đầu thư ký đề) ghi bán số lô, số đề cho khách qua đường và chuyển bảng số lô, số đề cho C. C nhận bảng ghi số lô, số đề và giữ lại toàn bộ các số lô, số đề để tự thanh toán thắng - thua với T1, T5, H3 và T4. C sử dụng Telegram đăng ký bằng số điện thoại 0974.624.xxx đặt tên “Anh T9” để nhận các tin nhắn, bảng số lô, số đề và thống nhất với T1, T5, H3 và T4 về việc qua giờ mở thưởng hàng ngày, hai bên sẽ xoá tin nhắn và thống nhất thanh toán với nhau trực tiếp bằng tiền mặt. T1, T2, H3 và bà T4 tự đứng ra ghi bán các số lô, số đề cho khách qua đường (không xác định được) sau đó chuyển bảng cho C và thanh toán độc lập với C. Khách mua số lô, số đề nếu trúng thưởng sẽ đến thanh toán trực tiếp với T1, T2, H3 hoặc bà T4.
Hình thức đánh lô số đề là 02 số tự nhiên từ 00 đến 99 căn cứ vào kết quả Xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng thua. Nếu số đề khách đã mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì khách thắng (trúng đề), khách sẽ được gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra, nếu không trúng thì khách sẽ mất số tiền khách đã bỏ ra để mua số đề. Nếu số lô khách mua (số lô được mua theo điểm lô với giá là 22.500 đồng/01 điểm lô) trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải nào của kết quả xổ số kiến thiết cùng ngày thì khách thắng (trúng lô) và được 80.000 đồng/01 điểm lô, nếu không trúng thì khách sẽ mất số tiền khách đã bỏ ra để mua số lô. Đối với lô xiên và lô xiên quay: Với mỗi số lô xiên 2 (kết quả xổ số khách có 02 số lô trùng với 02 số cuối của 02 giải bất kỳ của kết quả xổ số kiến thiết cùng ngày), nếu khách trúng thì được trả thưởng gấp 10 lần số tiền mua; Với mỗi số lô xiên 3 (kết quả xổ số khách có 03 số lô trùng với 02 số cuối của 03 giải bất kỳ của kết quả xổ số kiến thiết cùng ngày), nếu khách trúng thì được trả thưởng gấp 40 lần số tiền mua; Với mỗi số lô xiên 4 (kết quả xổ số khách có 04 số lô trùng với 02 số cuối của 04 giải bất kỳ của kết quả xổ số kiến thiết cùng ngày), nếu khách trúng thì được trả thưởng gấp 100 lần số tiền mua. Đối với đề 3 càng (kiểu chọn đề có 3 chữ số) thì nếu số đề người chơi đã chọn trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng bạc và người chơi được gấp 400 lần số tiền đã cược. Với mỗi số lô: Trịnh Thị T2 và Nguyễn Thị Thanh G bán cho khách với giá 22.500 đồng/01 điểm lô và chuyển cho C với giá 21.800 đồng/01 điểm lô, hưởng lợi 700 đồng/01 điểm lô; Trương Thị Thu H3 và Phạm Việt T1 ghi bán cho khách với giá 22.500 đồng/01 điểm lô, chuyển cho C với giá 21.750 đồng/01 điểm lô, hưởng lợi 750 đồng/01 điểm lô; Với số đề, C thu của T2, T4, H3, T1 đều với giá 73% số tiền đề trên bảng chuyển; Lô xiên, C thu của 04 người trên đều với giá 60% số tiền lô xiên trên bảng chuyển.
Ngày 18/12/2024, Phạm Việt T1 đã ghi bán cho khách vãng lai (không xác định được) các số lô, số đề và T1 đã chuyển cho C như sau:
- - Số đề: 17, 71, 70, 21 mỗi số 44.000 đồng; 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 22.000 đồng; 24, 42, 23, 32, 29, 92, 34, 43, 39, 93, 49, 94 mỗi số 11.000 đồng; 03 đánh 50.000 đồng; 30 đánh 20.000 đồng; 32, 34, 35, 37, 39, 82, 84, 85, 87, 89, 48, 93, 27, 28, 47, 33, 88, 44, 57, 43, 24, 42, 58, 54, 23, 94, 97, 98 mỗi số 55.000 đồng; 84, 48, 34, 35, 42, 43, 47, 85, 44 mỗi số 110.000 đồng; 11, 41, 14, 15, 35, 25 mỗi số 5.000 đồng; 34 đánh 220.000 đồng; 77, 33 mỗi số 22.000 đồng; 47 đánh 44.000 đồng; 74 đánh 11.000 đồng; 41, 40, 42, 43, 48, 49, 34, 55, 82, 85, 88, 93, 96, 97, 98 mỗi số 50.000 đồng; 10, 45, 83, 53, 54 mỗi số 120.000 đồng; 95, 44 mỗi số 270.000 đồng; 89 đánh 550.000 đồng; 19, 80, 92 mỗi số 40.000 đồng; 37 đánh 275.000 đồng; 21, 12, 23 mỗi số 33.000 đồng; 32, 33, 39, 72, 93 mỗi số 27.000 đồng; 82, 28, 89, 98 mỗi số 55.000 đồng; 29, 94, 95 mỗi số 11.000 đồng; 30 đánh 22.000 đồng; 21 đánh 11.000 đồng; 35 đánh 33.000 đồng; 13 đánh 110.000 đồng; 31, 33 mỗi số 55.000 đồng; 90 đánh 22.000 đồng; 16, 61, 34, 36, 21, 07, 66, 08, 58 mỗi số 11.000 đồng; 25, 52, 80, 88 mỗi số 5.000 đồng; 05, 50, 00, 55, 55 mỗi số 55.000 đồng; 35 đánh 110.000 đồng; 38, 83, 33 mỗi số 5.000 đồng; 34, 35, 84, 85 mỗi số 330.000 đồng. Tổng số tiền T1 ghi số đề và chuyển cho Trần Khánh C là: 8.946.000 đồng;
- - Số đề ba càng: 983, 289, 989, 910, 944, 995 mỗi số 60.000 đồng; 789, 589, 945, 947, 547, 589, 989, 983, 583, 585, 595 mỗi số 40.000 đồng; 808, 890 mỗi số 10.000 đồng. Tổng số tiền ghi số đề ba càng T1 chuyển cho Trần Khánh C là: 820.000 đồng;
- - Số lô thường: 37, 73 mỗi số 10 điểm; 39, 93 mỗi số 30 điểm; 76 đánh 20 điểm; 44 đánh 50 điểm; 22, 41, 37, 73, 18 mỗi số 3 điểm; 34 đánh 50 điểm; 43 đánh 20 điểm; 37 đánh 10 điểm; 82 đánh 8 điểm; 16, 53 mỗi số 5 điểm; 81, 28 mỗi số 10 điểm; 82, 28, 89, 98 mỗi số 25 điểm; 21, 63, 54 mỗi số 5 điểm; 04 đánh 02 điểm; 55 đánh 10 điểm; 01, 48, 84 mỗi số 50 điểm; 95, 33, 04 mỗi số 35 điểm; 83, 54 mỗi số 50 điểm; 34 đánh 100 điểm. Phạm Việt T1 ghi tổng số lô cho khách là 865 điểm x 22.500 đồng = 19.462.500 đồng. T1 chuyển cho C 560 điểm lô x 21.750 đồng = 12.180.000 đồng (T1 chưa kịp chuyển các số lô 95, 33, 04 mỗi số 35 điểm; 83, 54 mỗi số 50 điểm; 34 đánh 100 điểm cho Trần Khánh C thì bị phát hiện);
- - Số lô xiên: 21,30 x 100.000 đồng; 21,63,30 x 50.000 đồng; 37,73 x 200.000 đồng; 23,98,37,73 x 30.000 đồng; 81,28 x 140.000 đồng; 54,04,27 x 10.000 đồng; 54,04,72 x 10.000 đồng; 32,61,04 x 10.000 đồng; 32,61,54 x 10.000 đồng; 13,31,33 x 30.000 đồng; 67,16 x 20.000 đồng; 34,54 x 300.000 đồng; 34,54,83 x 250.000 đồng. Tổng số tiền ghi số lô xiên cho khách của Phạm Việt T1 là: 1.160.000 đồng và T1 chuyển cho Trần Khánh C 610.000 đồng (T1 chưa kịp chuyển các số 34,54 x 300.000 đồng; 34,54,83 x 250.000 đồng cho Trần Khánh C thì bị phát hiện).
Tổng số tiền Phạm Việt T1 đã ghi bán số lô, số đề là: 30.388.500 đồng (Tiền lô 865 điểm x 22.500 đồng = 19.462.500 đồng; Tiền lô xiên 1.160.000 đồng; Tiền đề 8.946.000 đồng; Tiền đề ba càng: 820.000 đồng). T1 sử dụng tài khoản Telegram đăng ký số điện thoại 0944.744.xxx chuyển cho C bảng cáp lô đề: Tiền lô 560 điểm x 21.750 đồng = 12.180.000 đồng; Tiền lô xiên 610.000 đồng; Tiền đề 8.946.000 đồng; Tiền đề ba càng 820.000 đồng. Tổng số tiền bảng lô, đề C nhận của T1 là: 22.556.000 đồng. Còn lại một phần bảng lô đề với số tiền là 7.183.750 đồng (gồm: 305 điểm lô x 21.750 đồng = 6.633.750 đồng; 550.000 đồng tiền lô xiên) do T1 chưa kịp chuyển cho C thì bị phát hiện.
Ngày 18/12/2024 Trịnh Thị T2 đã ghi bán cho khách vãng lai (không xác định được) các số lô, số đề và T2 đã chuyển cho C như sau:
- - Số đề: 36, 66, 23, 53, 58 mỗi số 11.000 đồng; 00 đánh 165.000 đồng; 33, 55, 88, 06 mỗi số 55.000 đồng; 07, 09, 79, 34, 43, 49, 67, 01, 04, 40 mỗi số 33.000 đồng; 34, 36, 53, 84 mỗi số 11.000 đồng; 35 đánh 77.000 đồng; 34, 35 mỗi số 110.000 đồng; 36 đánh 220.000 đồng; 01 đánh 330.000 đồng; 91, 23, 24 mỗi số 110.000 đồng; 03, 30, 57, 75, 47, 74, 49, 94, 68, 86, 40, 04, 67, 76, 26, 62, 66, 35, 53, 17, 71, 13, 31, 07, 70, 05, 50, 37, 73, 56, 65 mỗi số 33.000 đồng; 01, 10, 34, 43, 24, 42, 38, 83, 35, 53, 19, 91, 59, 95, 23, 32, 39, 93, 09, 90, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 55.000 đồng; 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 33.000 đồng; 90, 95 mỗi số 550.000 đồng; 36, 63, 06, 60, 16, 61, 46, 64, 69, 96, 90, 09, 95, 59, 40, 04, 45, 54, 93, 39, 98, 89, 43, 34, 48, 84 mỗi số 55.000 đồng; 12, 21, 14, 41, 15, 51, 18, 81, 11, 08, 80, 28, 82, 58, 85, 78, 87, 89, 98, 48, 84 mỗi số 33.000 đồng; 06, 60, 01, 10, 56, 65, 51, 15, 68, 86, 66 mỗi số 27.000 đồng; 93 đánh 220.000 đồng. Tổng số tiền T2 ghi số đề và chuyển cho Trần Khánh C là: 9.614.000 đồng;
- - Số lô xiên: 33,44,55 x 100.000 đồng; 32,33,34 x 100.000 đồng; 23,32,67,76 x 300.000 đồng; 31,61,74 x 300.000 đồng; 04,40,09,90 x 100.000 đồng; 21,71,03 x 100.000 đồng; 21,71,30 x 100.000 đồng; 21,71,03,30 x 100.000 đồng; 21,67,53 x 30.000 đồng; 21,76,53 x 30.000 đồng; 12,67,53 x 30.000 đồng; 12,76,53 x 30.000 đồng; 21,67,35 x 20.000 đồng; 21,76,35 x 20.000 đồng; 12,67,35 x 20.000 đồng; 12,76,35 x 20.000 đồng; 33,80 x 300.000 đồng. Tổng số tiền T2 ghi số lô xiên cho khách và chuyển cho Trần Khánh C là 1.700.000 đồng;
- - Số lô xiên quay: 33 – 37 – 73 có tất cả 04 cặp, khách đánh 50.000 đồng/cặp = 200.000 đồng; 23 – 32 – 34 – 43 có tất cả 11 cặp, khách 300.000 đồng/cặp = 3.300.000 đồng; 23 – 32 – 21 – 33 có tất cả 11 cặp, khách đánh 300.000 đồng/cặp = 3.300.000 đồng; 67 – 76 – 02 có tất cả 04 cặp, khách đánh 300.000 đồng/cặp = 1.200.000 đồng. Tổng số tiền T2 ghi số lô xiên quay cho khách và chuyển cho Trần Khánh C là: 8.000.000 đồng;
- - Số lô: 46, 00, 76, 88, 33, 04, 39 mỗi số 10 điểm; 37, 73, 29, 92, 63, 93, 31, 18, 33, 37, 73 mỗi số 5 điểm; 23, 32, 34, 43 mỗi số 30 điểm; 33, 21, 67, 76, 02, 03, 30 mỗi số 15 điểm; 68, 86, 66, 04, 40, 09, 90 mỗi số 10 điểm; 94, 52, 89 mỗi số 20 điểm; 25, 04, 50, 83, 07, 75 mỗi số 15 điểm; 28, 30, 05, 38, 70, 77, 57, 48, 81 mỗi số 10 điểm; 82, 84 mỗi số 5 điểm; 02 đánh 15 điểm. Tổng cộng Trịnh Thị T2 ghi bán số lô cho khách là 685 điểm x 22.500 đồng = 15.412.500 đồng. T2 chuyển cho Trần Khánh C 685 điểm lô x 21.800 đồng = 14.933.000 đồng.
Tổng số tiền T2 đã ghi bán số lô, số đề là: 34.726.500 đồng (Tiền đề: 9.614.000 đồng; tiền lô xiên 1.700.000 đồng; tiền lô xiên quay 8.000.000 đồng; tiền lô 685 điểm x 22.500 đồng = 15.412.500 đồng). T2 sử dụng tài khoản Telegram đăng ký số điện thoại 0986.454.xxx chuyển cho C bảng cáp lô đề: Tiền đề là: 9.614.000 đồng; Tiền lô xiên và xiên quay là 9.700.000 đồng; T6 lô 685 điểm x 21.800 đồng = 14.933.000 đồng. Tổng bảng lô, đề C nhận của T2 là: 34.247.000 đồng.
Ngày 18/12/2024, Trương Thị Thu H3 đã ghi bán số lô, số đề cho khách vãng lai (không xác định được) và chuyển bảng cáp số lô, số đề cho C như sau: Số đề: 37, 32, 23, 38, 27, 72, 11, 93, 60, 56, 36, 50, 33 mỗi số 22.000 đồng; 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 5.000 đồng; 84, 53, 34, 36 mỗi số 10.000 đồng; 35 đánh 130.000 đồng; 54, 79, 97, 05, 56, 44, 58 mỗi số 55.000 đồng; 28 đánh 33.000 đồng; 26 đánh 88.000 đồng; 15, 50, 82, 39, 61 mỗi số 11.000 đồng; 22 đánh 44.000 đồng. Tổng cộng số đề H3 ghi và chuyển cho C là: 1.111.000 đồng;
- - Số lô xiên: 92,32 x 20.000 đồng; 92,32,90 x 20.000 đồng. Tổng số tiền lô xiên H3 ghi và chuyển cho C là 40.000 đồng;
- - Số lô xiên quay: 26 – 62 – 76 – 67 có tất cả 11 cặp, khách đánh 10.000 đồng/cặp = 110.000 đồng; 58 – 85 – 89 – 98 có tất cả 11 cặp, khách đánh 10.000 đồng/cặp = 110.000 đồng. Tổng cộng số lô xiên quay H3 ghi và chuyển cho C là: 220.000 đồng;
- - Số lô: 27, 72, 54, 33, 83 mỗi số 10 điểm; 47, 74, 01, 86, 11, 91, 04, 33, 59, 64, 39, 73 mỗi số 5 điểm; 18, 81, 89, 98, 08, 80, 17, 71, 56, 65 mỗi số 25 điểm; 79, 97, 46, 82, 83 mỗi số 20 điểm; 04, 40, 37, 73, 46, 64, 48, 84 mỗi số 50 điểm; 86 đánh 20 điểm; 37, 73, 54, 88, 32, 86, 54, 46, 64, 53, 35, 83, 38, 54, 45, 46, 64, 48, 84 mỗi số 5 điểm; 23, 32, 04, 44, 58, 37, 38, 83, 04, 40, 37, 73, 18 mỗi số 10 điểm; 32, 72, 01, 10, 37, 73, 79, 97, 25, 52 mỗi số 25 điểm. Tổng cộng H3 ghi tổng số lô cho khách là 1355 điểm x 22.500 đồng = 30.487.500 đồng. H3 chuyển cho C 1355 điểm lô x 21.750 đồng = 29.471.250 đồng.
Tổng số tiền Trương Thị Thu H3 đã tổ chức đánh bạc là: 31.858.500 đồng (Gồm có: Tiền đề: 1.111.000 đồng; Tiền lô xiên 40.000 đồng; T6 lô xiên quay 220.000 đồng; Tiền lô 1355 điểm x 22.500 đồng = 30.487.500 đồng). H3 sử dụng tài khoản Telegram đăng ký số điện thoại 0377.018.xxx chuyển cho C bảng cáp lô đề với tổng số: Tiền đề 1.111.000 đồng; Tiền lô xiên 40.000 đồng; T6 lô xiên quay 220.000 đồng; L1 thường 1355 điểm x 21.750 đồng = 29.471.250 đồng. Tổng bảng lô, đề C nhận của H3 là: 30.842.250 đồng.
Ngày 18/12/2024, Nguyễn Thị T4 đã ghi bán số lô đề cho anh Nguyễn Kim C2, Dương Đức P và khách vãng lai (không xác định được) như sau:
- - Số đề: 31 đánh 27.000 đồng; 54, 90, 34, 36, 07, 08, 66, 16, 61, 52 mỗi số 11.000 đồng; 25, 21 mỗi số 5.000 đồng; 57, 75 mỗi số 22.000 đồng; 85 đánh 55.000 đồng; 70, 91, 54, 98 mỗi số 110.000 đồng; 04, 40, 53 mỗi số 22.000 đồng. Tổng số tiền T4 ghi số đề cho khách là: 752.000 đồng. Trong đó T4 bán cho P các số đề 70, 91, 54, 98 mỗi số đề 110.000 đồng = 440.000 đồng;
- - Số lô: 27, 72 mỗi số 2 điểm; 55 đánh 15 điểm; 57 đánh 5 điểm; 63 đánh 35 điểm; 63 đánh 5 điểm; 53 đánh 10 điểm; 27, 72, 33, 88 mỗi số 5 điểm. Nguyễn Thị Thanh ghi số lô cho khách là 94 điểm, trong đó có 74 điểm lô được T4 ghi cho khách với giá là 22.500 đồng, số tiền là 74 điểm x 22.500 đồng = 1.665.000 đồng (Trong đó bán cho C2 số lô 27, 72, 33, 88 mỗi số 5 điểm x 23.000 đồng/điểm = 460.000 đồng.). Tổng số tiền T4 ghi số lô là 2.125.000 đồng; Số lô xiên: 37,75 đánh 5.000 đồng.
Tổng số tiền bà Nguyễn Thị T4 đã ghi bán số lô, số đề là: 2.882.000 đồng (Gồm có: Tiền đề: 752.000 đồng + Tiền lô xiên 5.000 đồng + Tiền lô 1.665.000 đồng (74 điểm x 22.500 đồng) + 460.000 đồng (20 điểm x 23.000 đồng). Thời điểm bị phát hiện, bà T4 chưa kịp gửi bảng lô đề cho Trần Khánh C.
Tổng số tiền Trần Khánh C đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận bảng mua, bán các số lô, số đề trong ngày 18/12/2024 với Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3 và Nguyễn Thị T4 là: 97.711.000 đồng (Gồm có: 87.645.250 đồng bảng cáp lô đề của các bị can T2, H3, T1; 2.882.000 đồng của đối tượng T7 và 7.183.750 đồng của T1 chưa kịp chuyển).
Ngày 18/12/2024, Nguyễn Kim C2 và Dương Đức P đã mua các số lô, số đề của bà Nguyễn Thị Thanh N1 sau: Cương mua số lô: 27, 72, 33, 88 mỗi số 5 điểm x 23.000 đồng/điểm = 460.000 đồng; P mua các số đề: 70, 91, 54, 98 mỗi số đề 110.000 đồng = 440.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3 và Nguyễn Thị T4 khai nhận hành vi tổ chức đánh bạc, Nguyễn Kim C2 và Dương Đức P khai nhận hành vi đánh bạc như đã nêu trên. Do thời điểm kiểm tra hành chính trước giờ mở thưởng kết quả Xổ số Miền Bắc nên các đối tượng chưa phải chịu trách nhiệm về kết quả thắng, thua.
Tại Kết luận giám định số: 1554/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “1. Mẫu A1 (điện thoại của Phạm Việt T1):
- - Tìm thấy 11995 tin nhắn SMS;
- - Không tìm thấy tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định;
- - Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Telegram do phần mềm không hỗ trợ;
- 2. Mẫu A2 (điện thoại của Trương Thị Thu H3):
- - Tìm thấy 348 tin nhắn SMS, 3775 tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định;
- - Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Telegram do phần mềm không hỗ trợ;
- 3. Mẫu A3 (điện thoại của Nguyễn Thị T4):
- - Tìm thấy 73 tin nhắn SMS, 1987 tin nhắn Zalo, 100 tin nhắn Telegram trong điện thoại gửi giám định;
- 4. Mẫu A4 (điện thoại của Trịnh Thị T2):
- - Tìm thấy 165 tin nhắn SMS, 2365 tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định.
- - Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Telegram do phần mềm không hỗ trợ;
- 5. Mẫu A5 (máy tính bảng của Trần Khánh C):
- - Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong máy tính bảng gửi giám định (do thiết bị bị khóa mật khẩu màn hình);
- 6. Mẫu A6 (máy tính bảng của Trần Khánh C):
- - Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong máy tính bảng gửi giám định (do thiết bị bị khóa mật khẩu màn hình)”.
Tại Kết luận giám định số: 2633/KL-KTHS ngày 07/5/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “1. Mẫu A1: Tìm thấy 34277 hình ảnh trong điện thoại gửi giám định;
- 2. Mẫu A2: Tìm thấy 19786 hình ảnh trong điện thoại gửi giám định;
- 3. Mẫu A3: Tìm thấy 78552 hình ảnh trong điện thoại gửi giám định;
- 4. Mẫu A4: Tìm thấy 42606 hình ảnh trong điện thoại gửi giám định;
- 5. Mẫu A5: Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong máy tính bảng gửi giám định (do thiết bị có mật khẩu khóa màn hình).
- 6. Mẫu A6: Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong máy tính bảng gửi giám định (do thiết bị có mật khẩu khóa màn hình).”
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra các dữ liệu được khôi phục gồm các hình ảnh, các tin nhắn đã được cơ quan giám định tìm thấy qua giám định và khôi phục dữ liệu, kết quả không phát hiện được thêm chứng cứ về hoạt động tổ chức đánh bạc, đánh bạc, mua bán lô, số đề nào khác nên Cơ quan điều tra không đề cập kết luận xử lý.
Tại Kết luận giám định số: 2472/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “1) Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (bảng cáp lô đề đứng tên Trịnh Thị T2) với chữ viết, chữ số đứng tên Trịnh Thị T2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 là chữ do cùng một người viết ra;
- 2) Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (bảng cáp lô đề đứng tên Phạm Việt T1) với chữ viết, chữ số đứng tên Phạm Việt T1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M4 đến M6 là chữ do cùng một người viết ra”.
Đối với 02 máy tính bảng Samsung thu giữ của Trần Khánh C (hiện 02 thiết bị đang bị khóa mật khẩu màn hình): Quá trình điều tra, Trần Khánh C khai đã mua 02 máy tính này từ lâu (C không nhớ mua của ai và ở đâu) và chỉ do một mình C sử dụng, khi mua C nhờ người cài mật khẩu nhưng bản thân C không nhớ mật khẩu của 02 máy tính bảng này, hàng ngày C chỉ mở máy bằng vân tay và máy được cắm sạc đầy đủ. Tuy nhiên sau đó máy hết pin, khi cắm sạc hiển thị nội dung “Vẽ mẫu hình sau khi khởi động lại” và “Sử dụng mật mã sau khi khởi động lại” nhưng do C không nhớ mật mã, mẫu hình và đã thử mở nhiều lần bằng vân tay nhưng không mở được.
Đối với bà Nguyễn Thị T4, ngày 18/12/2024, bà T4 đã ghi bán số lô, số đề với tổng số tiền là: 2.882.000 đồng. Thời điểm cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bà T4 chưa kịp chuyển bảng lô, đề trên cho C. Qua điều tra xác minh, xác định bà Nguyễn Thị T4 không có tiền án, tiền sự và do tổng số tiền ghi số lô, số đề của bà T4 dưới 5.000.000 đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 26/02/2025 Cơ quan Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị T4 về hành vi “Bán số lô, số đề, bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng” theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 28 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Kim C2 và anh Dương Đức P: Ngày 18/12/2024, anh C2 đã ghi mua của bà T4 các số lô 27, 72, 33, 88 mỗi số 5 điểm x 23.000 đồng/điểm = 460.000 đồng và anh P đã ghi mua của bà T4 các số đề 70, 91, 54, 98 mỗi số đề 110.000 đồng = 440.000 đồng. Qua xác minh nhân thân, anh Nguyễn Kim C2 và anh Dương Đức P không có tiền án, tiền sự và do tổng số tiền đánh bạc của anh C2 và anh P đều dưới 5.000.000 đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 26/02/2025, Cơ quan Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Kim C2 và anh Dương Đức P về hành vi “Mua các số lô, số đề” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, hình thức phạt tiền 350.000 đồng/người.
Đối với hành vi mua bán số lô số đề của Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3 và Nguyễn Thị T4 vào những ngày trước đó, do dữ liệu trên ứng dụng Telegram đã bị xóa và do C, T1, T5, H3, T4 không nhớ được đã bán số lô, số đề cho khách và chuyển bảng cho C như thế nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và kết luận xử lý.
Đối với nhóm T8 “Co Hue m” (gồm 07 thành viên) bao gồm: Tùng Drop V, H4, A Cường L2, Anh T9, M, T2, Yet N: Qúa trình điều tra xác định các tài khoản “Tùng Drop V”, “Me Hue” là tài khoản của Phạm Việt T1; các tài khoản “A Cường L2”, “Anh T9” là tài khoản của Trần Khánh C đang sử dụng để xác nhận các số lô, số đề nhận của T1; các tài khoản “Hit”, “Tuyển”, “Yet No Name” cũng là các tài khoản Telegram cũ của C được C đăng ký bằng sim rác và hiện không sử dụng, C vẫn giữ lại các tài khoản này trong nhóm và không xóa đi nên các tài khoản này vẫn hiện lên là thành viên trong nhóm. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu phục hồi dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Telegram nhưng không trích xuất được dữ liệu do phần mềm phục hồi không hỗ trợ. Do vậy, Cơ quan điều tra không kết luận xử lý.
Theo Cáo trạng số: 125/CT-VKSNTL ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố Bị cáo Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3, về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự;
Điều luật quy định như sau:
“Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;”
Tại phiên toà: Bị cáo Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các Bị cáo và xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các Bị cáo về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi các Bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các Bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được cải tạo ngoài xã hội, cũng là bài học cho các Bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Luận tội của Kiểm sát viên:
Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo: Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 và kết luận: Giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Các Bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội, các Bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo T2, H3, T1 đã tự nguyện nộp vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền các Bị cáo do phạm tội mà có; Bị cáo T2 và H3 có hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình, gia đình Bị cáo T2 và H3 có công với Cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử cho các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo T2 và H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho Bị cáo T2, H3 được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao các Bị cáo T2 và H3 về UBND nơi các Bị cáo cư trú để giám sát giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục các Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt chính:
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo C từ 15 đến 18 tháng tù và áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo C theo quy định tại Khoản 2 Điều 35; Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền Bị cáo C từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 322; Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 (đối với T1); Điều 65 (đối với T2 và H3) của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo T1 từ 12 đến 15 tháng tù; Mức hình phạt đối với T2 và H3, mỗi Bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án;
Về hình phạt bổ sung:
Các Bị cáo T1, T2, H không có việc làm, không có thu nhập ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của các Bị cáo gồm có: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng hồng (Tạm giữ của Trịnh Thị T2); 01 điện thoại IPhone 15 Promax màu trắng (Tạm giữ của Trương Thị Thu H3); 01 điện thoại IPhone 12 Promax màu vàng (Tạm giữ của Phạm Việt T1); 01 máy tính bảng S1 S6 và 01 máy tính bảng S1 (Tạm giữ của Trần Khánh C); 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu đen (Tạm giữ của bà Nguyễn Thị T4); Đối với 01 ví màu ghi kích thước khoảng 15x10(cm) tạm giữ của anh Dương Đức P, do anh P có đơn không yêu cầu Tòa án trả lại vì ví không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy;
Đối với số tiền do các Bị cáo phạm tội mà có, đề nghị Hội đồng xét xử buộc Bị cáo T2, H3, T1 phải nộp sung vào ngân sách N, cụ thể như sau:
- - Buộc Bị cáo T2 phải nộp số tiền là: 34.726.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, bẩy trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 34.726.500 đồng Bị cáo T2 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm ngày 19/6/2025;
- - Buộc Bị cáo H3 phải nộp số tiền là: 31.858.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 25.000.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo H3 ngày 18/12/2024 và 6.858.500 đồng Bị cáo H3 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm ngày 19/6/2025;
- - Buộc Bị cáo T1 phải nộp số tiền là: 30.388.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 4.500.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo T1 ngày 18/12/2024 và 25.888.500 đồng Bị cáo T1 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm ngày 17/6/2025;
Xác nhận các Bị cáo T2, H3, T1 đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của các Bị cáo: Lời khai nhận tội của Bị cáo Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các Bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 18/12/2024 tại khu vực đường L, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi bán các số lô, số đề cho khách vãng lai (không xác định được), trong đó Trần Khánh C làm chủ đề, giữ vai trò chính còn T1, T2, H3 và đối tượng Nguyễn Thị T4 là các thư ký đề, là người trực tiếp ghi bán số lô, số đề và chuyển bảng ghi số lô, số đề cho C để C thanh toán thắng thua, cụ thể như sau:
- - Ngày 18/12/2024, Trịnh Thị T2 đã có hành vi ghi bán số lô, số đề với tổng số tiền là: 34.726.500 đồng (gồm: 685 điểm lô x 22.500 đồng = 15.412.500 đồng; 9.614.000 đồng tiền đề; 9.700.000 đồng tiền lô xiên, xiên quay). Sau đó, T2 đã nhắn tin và chuyển bảng số lô, số đề trên cho Trần Khánh C qua ứng dụng Telegram và được C xác nhận;
- - Ngày 18/12/2024, Trương Thị Thu H3 đã có hành vi ghi bán số lô, số đề với tổng số tiền là: 31.858.500 đồng (gồm: 1355 điểm lô x 22.500 đồng = 30.487.500 đồng; 1.111.000 đồng tiền đề; 260.000 đồng tiền lô xiên). Sau khi ghi bán các số lô, số đề cho khách, H3 đã nhắn tin qua ứng dụng Telegram và chuyển bảng số lô, số đề trên cho Trần Khánh C và được C xác nhận.
- - Ngày 18/12/2024, Phạm Việt T1 đã có hành vi ghi bán số lô, số đề với tổng số tiền là: 30.388.500 đồng (gồm: 865 điểm lô x 22.500 đồng = 19.462.500 đồng; 1.160.000 đồng tiền lô xiên; 8.946.000 đồng tiền đề; 820.000 đồng tiền đề ba càng). Sau khi bán các số lô đề cho khách, T1 đã nhắn tin chuyển một phần bảng cáp lô, đề với số tiền là 22.556.000 đồng (gồm: 560 điểm lô x 21.750.000 đồng = 12.180.000 đồng; tiền lô xiên 610.000 đồng; tiền đề 8.946.000 đồng; tiền đề ba càng 820.000 đồng) cho Trần Khánh C và được C xác nhận. Còn lại một phần bảng số lô, số đề với số tiền là 7.183.750 đồng (gồm: 305 điểm lô x 21.750 đồng = 6.633.750 đồng; 550.000 đồng tiền lô xiên), T1 chưa kịp chuyển cho C thì bị phát hiện, bắt giữ.
- - Ngày 18/12/2024, Trần Khánh C đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận bảng số lô, số đề của các thư ký đề gồm Trịnh Thị T2, Trương Thị Thu H3, Phạm Việt T1 và của đối tượng Nguyễn Thị Thanh C3 để thanh toán thắng thua, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 97.711.000 đồng (bao gồm 87.645.250 đồng bảng cáp lô đề của các bị can T2, H3, T1; 2.882.000 đồng của đối tượng T7 và 7.183.750 đồng của T1 chưa kịp chuyển).
Do thời điểm cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện trước giờ mở thưởng kết quả Xổ số Miền Bắc nên các Bị cáo chưa phải chịu trách nhiệm về kết quả thắng thua.
Hành vi nêu trên của Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố các Bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các Bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn xâm phạm đến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về phòng chống các tệ nạn xã hội, còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Các Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi:“Tổ chức đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với động cơ tư lợi, mục đích nhằm thu lợi bất chính từ việc “Tổ chức đánh bạc”, các Bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, các Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các Bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội, các Bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo T2, H3, T1 đã tự nguyện nộp vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền các Bị cáo do phạm tội mà có; Bị cáo T2 và H3 có hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình, gia đình Bị cáo T2 và H3 có công với Cách mạng, nên các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử khi lượng hình, xét vai trò thực hiện hành vi phạm tội của từng Bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với từng Bị cáo như sau: Bị cáo C là người chủ mưu, cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung; Bị cáo T1, T2, H3 với vai trò đồng phạm với Bị cáo C nên áp dụng mức hình phạt đối với Bị cáo T1, T2, H3 thấp hơn mức hình phạt áp dụng đối với Bị cáo C.
Nhận thấy: Bị cáo T2 và H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cho Bị cáo T2 và H3 được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và ấn định thời gian thử thách, giao Bị cáo T2 và H3 về UBND nơi các Bị cáo cư trú để giám sát giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách, Gia đình Bị cáo T2 và H3 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo cũng có tác dụng giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với các Bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các Bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 2 Điều 35; Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Xét thấy Bị cáo C với vai trò chủ mưu trong vụ án nên áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền 20.000.000 đồng đối với Bị cáo C. Xét thấy Bị cáo T1, T2, H với vai trò đồng phạm, không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ;
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2, Đ1 a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của các Bị cáo gồm có: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng hồng (Tạm giữ của Trịnh Thị T2); 01 điện thoại IPhone 15 Promax màu trắng (Tạm giữ của Trương Thị Thu H3); 01 điện thoại IPhone 12 Promax màu vàng (Tạm giữ của Phạm Việt T1); 01 máy tính bảng S1 S6 và 01 máy tính bảng S1 (Tạm giữ của Trần Khánh C);
- Trả lại bà Nguyễn Thị T4: 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu đen; Đối với 01 ví màu ghi kích thước khoảng 15x10(cm) tạm giữ của anh Dương Đức P, do anh P có đơn không yêu cầu Tòa án trả lại vì ví không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy;
Đối với số tiền do các Bị cáo phạm tội mà có, buộc Bị cáo T2, H3, T1 phải nộp sung vào ngân sách N, cụ thể như sau:
- - Buộc Bị cáo Trịnh Thị T2 phải nộp số tiền là: 34.726.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, bẩy trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm đồng), xác nhận Bị cáo T2 đã nộp toàn bộ số tiền 34.726.500 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027215 ngày 19/6/2025);
- - Buộc Bị cáo Trương Thị Thu H3 phải nộp số tiền là: 31.858.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 25.000.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo H3 ngày 18/12/2024 và 6.858.500 đồng Bị cáo H3 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027216 ngày 19/6/2025);
- - Buộc Bị cáo Phạm Việt T1 phải nộp số tiền là: 30.388.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 4.500.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo T1 ngày 18/12/2024 và 25.888.500 đồng Bị cáo T1 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027214 ngày 17/6/2025);
Xác nhận Bị cáo H3 và T1 đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền do các Bị cáo phạm tội mà có theo Giấy nộp tiền ngày 20/6/2025 tại Ngân hàng TMCP C5, chi nhánh N2, Phòng G1 (Công an quận N, thành phố Hà Nội nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không;
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
Các Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Khánh C, Phạm Việt T1, Trịnh Thị T2 và Trương Thị Thu H3 phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”;
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 322; Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Khánh C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 35; Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Phạt tiền Bị cáo C 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng).
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 322; Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Việt T1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024).
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 322; Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị T2 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thu H3 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Bị cáo T2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội; Giao Bị cáo H3 cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hà Nội, để giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình Bị cáo T2, H3 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2, Đ1 a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của các Bị cáo gồm có: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng hồng; 01 điện thoại IPhone 15 Promax màu trắng; 01 điện thoại IPhone 12 Promax màu vàng; 01 máy tính bảng S1 S6 và 01 máy tính bảng S1;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 ví màu ghi kích thước 15x10(cm) (Không còn giá trị sử dụng);
- Trả lại bà Nguyễn Thị T4: 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu đen;
(Có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 201 ngày 23/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội);
Buộc Bị cáo T2, H3, T1 phải nộp sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền do các Bị cáo phạm tội mà có, cụ thể như sau:
- - Buộc Bị cáo Trịnh Thị T2 phải nộp số tiền là: 34.726.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, bẩy trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm đồng), xác nhận Bị cáo T2 đã nộp toàn bộ số tiền 34.726.500 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027215 ngày 19/6/2025);
- - Buộc Bị cáo Trương Thị Thu H3 phải nộp số tiền là: 31.858.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 25.000.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo H3 ngày 18/12/2024 và 6.858.500 đồng Bị cáo H3 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027216 ngày 19/6/2025);
- - Buộc Bị cáo Phạm Việt T1 phải nộp số tiền là: 30.388.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm đồng), được trừ vào số tiền 4.500.000 đồng Cơ quan điều tra tạm giữ của Bị cáo T1 ngày 18/12/2024 và 25.888.500 đồng Bị cáo T1 tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm (Biên lai số 0027214 ngày 17/6/2025);
Xác nhận Bị cáo H3 và T1 đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền do các Bị cáo phạm tội mà có theo Giấy nộp tiền ngày 20/6/2025 tại Ngân hàng TMCP C5, chi nhánh N2, Phòng G1 (Công an quận N, thành phố Hà Nội nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1, Khoản 4 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về án phí:
Các Bị cáo: C, T1, T2, H3, mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận: TM.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lệ T10 |
Bản án số 128/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 128/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án
