TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-5-2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Thoa, ông Huỳnh Văn Dứt.
Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 235/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Phan Thị Ánh N, sinh năm 1982, địa chỉ: khóm T1, thị trấn HA, huyện CM, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1976, địa chỉ: khóm T1, thị trấn HA, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Phan Thị Ánh N trình bày:
Bà và ông T do mai mối, tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hội An, huyện CM, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống bà và ông T thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T ăn chơi, không quan tâm đến vợ con, ông T đi làm không đưa tiền phu giúp bà chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân khoảng 02 năm. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T; về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 19/3/2003 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007 hiện nay đang sống với ông T. bà N đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Nguyễn Ngọc T đã thành niên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà N.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Đối với nguyên đơn: Bà Phan Thị Ánh N, từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định, tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề xuất;
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Ánh N đối với ông Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007; bà Phan Thị Ánh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Bà Phan Thị Ánh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T. Ông T có nơi cư trú tại khóm T1, thị trấn HA, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Phan Thị Ánh N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Phan Thị Ánh N và ông Nguyễn Ngọc T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2001 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà N trình bày thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau vợ chồng thường hay mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T ăn chơi, không quan tâm đến vợ con, ông T đi làm không đưa tiền cho bà để lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng năm đến nay không tới lui thăm nhau. Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông Nguyễn Ngọc T đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Mặc khác, bà N xác định không còn tình cảm với chồng nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Ánh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Phan Thị Ánh N xác định bà và ông Nguyễn Ngọc T có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 19/3/2003 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007 hiện nay cháu Th đang sống với ông T. Bà N đồng ý để ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Th, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2003 đã thành niên, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay ông T là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với ông T cháu Th vẫn phát triển bình thường về T chất, tinh thần và được ông T tạo điều kiện cho đi học. Mặc khác, tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Th, qua ghi nhận cháu có nguyện vọng tiếp tục sống với ba. Do đó, cần để ông T tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện vọng của con.
Do ông Nguyễn Ngọc T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: do bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí: bà Phan Thị Ánh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ánh N:
Về hôn nhân: Cho bà Phan Thị Ánh N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007, bà Phan Thị Ánh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Ngọc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phan Thị Anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có T quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí: Bà Phan Thị Ánh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai thu số 0024168 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 25 tháng 02 năm 2025. Bà N đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Dương |
Bản án số 128/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 128/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà và ông T do mai mối, tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hội An, huyện CM, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống bà và ông T thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T ăn chơi, không quan tâm đến vợ con, ông T đi làm không đưa tiền phu giúp bà chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân khoảng 02 năm. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T; về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 19/3/2003 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007 hiện nay đang sống với ông T. bà N đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày 30/10/2007, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Nguyễn Ngọc T đã thành niên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
