|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/6/2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương;
Ông Lê Quang Vinh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 72/2025/HNGÐST ngày 02/4/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐ-ST ngày 14/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2025/QĐ-ST ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tuyết N1, sinh năm 1993;
Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1990;
Nơi thường trú: Thôn M, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Tại phiên toà, vắng mặt chị N1 (có đơn xin xét xử vắng mặt); vắng mặt anh L không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Tuyết N1 trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/3/2020 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến năm 2022, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ khi đi Đài Loan đến nay, anh L không gửi tiền cho chị nuôi con và lo cuộc sống gia đình và cũng không về Việt Nam lần nào để thăm chị và các con. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng không thể tiếp tục kéo dài được nữa, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bá L.
- Về con chung: Chị Trần Thị Tuyết N1 và anh Nguyễn Bá L có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 26/4/2021. Hiện nay cháu Hải A đang sinh sống cùng chị. Nay ly hôn, nguyện vọng của chị N1 được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải A, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Trần Thị Tuyết N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị N1 trình bày không biết địa chỉ cụ thể tại Đài Loan của anh Nguyễn Bá L nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị cho biết, anh L vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H, trú tại Thôn M, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ của anh L.
Tại Biên bản làm việc ngày 13/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, mẹ đẻ của anh Nguyễn Bá L là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Anh Nguyễn Bá L và chị Trần Thị Tuyết N1 được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Năm 2022, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Gia đình bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh L qua điện thoại, tuy nhiên không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh L. Anh L và chị N1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 26/4/2021. Hiện nay cháu Hải A đang sinh sống cùng chị N1. Về tài sản chung, nợ chung: Anh L và chị N1 không có. Việc chị N1 nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, bà không có ý kiến gì vì đó là việc riêng của vợ chồng anh chị.
Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Nguyễn Thị H. Bà H đã ký nhận toàn bộ các văn bản và cam đoan sẽ thông báo cho anh L khi anh liên lạc với gia đình.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N1; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải A cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N1; Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết N1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về thủ tục tố tụng:
-
Về thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn anh Nguyễn Bá L có nơi thường trú trước khi xuất cảnh tại Thôn M, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Anh Nguyễn Bá L hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hóa, hiện đang cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Trong quá trình xem xét thụ lý vụ án, Phòng Q - Công an tỉnh T có văn bản số 577/PA08-T1 ngày 19/3/2025 trả lời Công văn số 48/CV-TA ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1990, xuất cảnh ngày 12/5/2009 qua cửa khẩu sân bay quốc tế T và nhập cảnh ngày 27/8/2010 đều bằng hộ chiếu B2668292. Lần xuất cảnh gần nhất của anh L là ngày 02/6/2022 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N2 bằng hộ chiếu C9440938.
-
Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Về địa chỉ cụ thể của anh L tại Đài Loan hiện nay, chị N1 không cung cấp được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo Thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh L (xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); đồng thời tiến hành lấy lời khai mẹ đẻ của anh L là bà Nguyễn Thị H để làm rõ mối quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị N1. Bà H cho biết anh L vẫn liên lạc với gia đình, nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh L tại Đài Loan, do đó Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vắng mặt bị đơn (theo hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).
-
Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N1 vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Bá L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng hai lần nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
-
Về thẩm quyền của Tòa án:
-
Về nội dung:
-
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết N1 và anh Nguyễn Bá L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị N1 trình bày, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến năm 2022, do hoàn cảnh gia đình nên anh L đi Đài Loan xuất khẩu lao động. Trong thời gian anh L ở Đài Loan, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét mâu thuẫn đôi bên đã trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị N1 được ly hôn anh L.
- Về con chung: Chị Trần Thị Tuyết N1 và anh Nguyễn Bá L có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 26/4/2021. Hiện nay anh L đang sinh sống ở nước ngoài, vì vậy giao con cho chị N1 nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của chị N1.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Anh L không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh L yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
-
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết N1 và anh Nguyễn Bá L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân hợp pháp.
- Về án phí: Chị N1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; 56; 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
-
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết N1.
- - Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tuyết N1 được ly hôn anh Nguyễn Bá L.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải A, sinh ngày 26/4/2021 cho chị Trần Thị Tuyết N1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- - Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết N1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000621 ngày 28/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị N1 đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Tuyết N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Bá L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đào Anh Đức |
Bản án số 128/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 128/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
