TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Cao Thị Hạ
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 336/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bích N, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã H, huyện T (nay là phường H, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Hiện cư trú: Số A ngõ B đường số A Z, quận Y, thành phố T, Đài Loan; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Bá N1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T (nay là phường H, thành phố T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy uỷ quyền, đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N (đã hợp pháp hoá lãnh sự tại Văn phòng K tại Đ) trình bày:
Chị và anh Phạm Bá N1 cùng học chung trường cấp 3 và quen biết nhau, tìm hiểu được một thời gian thì phát sinh tình cảm. Sau đó, anh chị chung sống với nhau tại thôn M, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng cho đến khi chị mang thai (cháu Gia H) thì anh chị mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T (nay là thành phố T), thành phố Hải phòng vào ngày 27/04/2015.
Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng về kinh tế, công việc của anh N1 bấp bênh và anh N1 không đưa tiền cho chị để phụ giúp nuôi con. Một mình chị vừa phải lo lắng kinh tế gia đình vừa phải chăm sóc con mà không được sự đỡ đần của chồng nên chị cảm thấy chán nản dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh N1 chăm chỉ làm ăn nhưng không có kết quả. Đến tháng 11/2022, chị N1 đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan để có thêm thu nhập kinh tế gia đình. Khi sang Đài Loan, chị vẫn thường xuyên gọi điện về cho anh N1 nhưng chỉ là để hỏi thăm tình hình sức khỏe gia đình và tình hình học tập của con, thực tế anh chị không còn nói chuyện nhiều và dần không còn tình cảm với nhau nữa. Nay chị N1 xác định tình cảm không còn, tính cách, lối sống của hai vợ chồng không phù hợp, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn với anh Phạm Bá N1
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015. Hiện cháu H đang ở cùng với anh N1, sau khi ly hôn chị N1 đề nghị Toà án giao cháu H cho anh N1 nuôi dưỡng vì chị đang ở nước ngoài, không có điều kiện chăm sóc con. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Chị N1 và anh N1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Bá N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không lên Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản, quan điểm gửi Tòa án.
Tài liệu xác minh tại tổ dân phố nơi anh Phạm Bá N1 cư trú, thể hiện: A và chị N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có giấy đăng ký kết hôn, quá trình chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Nay chị N1 làm đơn xin ly hôn với anh N1, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh chị có 01 con chung là cháu Phạm Gia H hiện tại đang ở cùng với anh N1. Khi ly hôn Toà án giao con chung cho anh N1 nuôi dưỡng là phù hợp. Địa phương không biết được anh chị có tài sản gì chung.
Mẹ đẻ của anh Phạm Bá N1 trình bày: Thống nhất với chị N1 về thời gian kết hôn lý do xin ly hôn, nguyên nhân chủ yếu do chị N1 và anh N1 bất đồng quan điểm sống, lối sống. Nay chị N1 đề nghị ly hôn với anh N1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án đã thông báo cho anh N1 nhưng do anh N1 thường xuyên phải đi làm nên không có thời gian đến Toà án, do đó bà đề nghị Toà án cho anh N1 được xử vắng mặt. Về con chung: Anh N2 và chị N2 có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015 hiện tại cháu đang ở cùng với anh N2. Sau khi ly hôn đề nghị Toà án giao con chung cho anh N2 nuôi dưỡng. Đề nghị Toà án chấp nhận sự tự nguyện của chị N2 cấp dưỡng cho cháu H 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh N2 và chị N2 không có tài sản gì chung.
Tại phiên toà, chị Ngô Thị Bích N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, quan điểm như bản tự khai đã gửi Tòa án. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của nguyên đơn và tài liệu xác minh, thu thập chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị N và anh N kết hôn tự nguyện, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T (nay là thành phố T), thành phố Hải phòng vào ngày 27/04/2015. Anh chị chung sống bình thường, hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng về kinh tế. Đến tháng 11/2022, chị N đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan để có thêm thu nhập kinh tế gia đình. Từ khi chị N sang Đài Loan mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, lâu dần anh chị không còn tình cảm với nhau nữa và đã sống ly thân gần 03 năm nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị N và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Bích N, cho chị được ly hôn với anh Phạm Bá N1.
Về con chung: Giao cháu Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015 cho anh N1 được nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của chị N1 cấp dưỡng hàng tháng cho cháu H số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: A và chị N1 không có tài sản chung nên không đặt vấn đề giải quyết
Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. nguyên đơn là chị Ngô Thị Bích N hiện cư trú tại Đài Loan và bị đơn anh Phạm Bá N1, hiện cư trú trên địa bàn thành phố T, Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự,
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Bá N1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào các điều 227; 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Ngô Thị Bích N và những người làm chứng trình bày, hôn nhân giữa chị N và anh N là hợp pháp theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn chị Ngô Thị Bích N và anh Phạm Bá N1 chung sống hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về kinh tế, về việc chăm sóc con chung; đã được gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Khi mâu thuẫn chưa được giải quyết thì đến tháng 11/2022 chị N1 sang Đài Loan lao động, từ đó vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai về tình cảm, độc lập về kinh tế. Chị N1 xác định không còn tình cảm vợ chồng, khả năng đoàn tụ không có. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa chị Ngô Thị Bích N và anh Phạm Bá N1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Bích N. Cho chị N được ly hôn anh Phạm Bá N1.
[4] Về con chung: Chị Ngô Thị Bích N và anh Phạm Bá N1 có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015; từ khi chị N1 sang Đài Loan đến nay đang ở với anh N1. Chị N1 có nguyện vọng để cháu Gia H tiếp tục ở với bố để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và học tập ổn định. Xét đề nghị của chị N1 là phù hợp quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của các bên nên giao cháu Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015 cho anh N1 nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N1 tự nguyện cấp dưỡng cho cháu H 3.000.000 đồng/tháng. Xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con của chị N1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh và mức sống tại địa phương. Vì vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của chị N1 cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Bích N và anh Phạm Bá N1 không có không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; các điều 227; 228; 238; 271; 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 81; 82; 83; 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Bích N được ly hôn anh Phạm Bá N1.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Gia H, sinh ngày 07/09/2015 cho anh Phạm Bá N1 trực tiếp nuôi dưỡng; chị Ngô Thị Bích N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/ 1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đôi với số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại các điều 357; 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Bích N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Ngô Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ; tổng cộng là 600.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000987 ngày 30/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị N còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Ngô Thị Bích N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Phạm Bá N1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Vũ Thị Minh Nguyệt | Đỗ Xuân Quyết | Nguyễn Minh Thu |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Thu
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSNDTP Hải Phòng;
- - Cục THADS TP Hải Phòng;
- - UBND phường Hoa Động, thành phố Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 27/4/2015);
- - Lưu: Hồ sơ, HCTP.
Bản án số 128/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 128/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CNYCKK
