Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 128/2025/DS-PT

Ngày 28 tháng 5 năm 2025

V/v: “Bồi thường thiệt hại do sức

khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Linh

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Phước Hưng và bà Đào Nữ Ngọc Lan.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Trần Văn Dự - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Dương Qui Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2025/TLPT-DS, ngày 17 tháng 4 năm 2025, về việc: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 309/2024/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107/2025/QĐXXPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2025/QĐPT-DS ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Văn A, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ B, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1991. Trú tại tổ B, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1972; Trú tại tổ B, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
    2. Ông Lê Văn O, sinh năm 1974. Trú tại tổ B, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Lê Văn A trình bày: Vào khoảng tháng 6/2023 ông Lê Văn O có bán lúa đồng vịt cho ông A để ông A bán lại cho các chủ nuôi vịt chạy đồng ăn. Do trước đây ông O bán cho ông L nhưng L không trả tiền đầy đủ nên ông O không bán nữa mà bán cho ông A. Ngày 09/8/2023 L điện thoại cho ông A H doạ đòi giết, ông A cùng với ông O đến nhà gặp mẹ của L nói chuyện, ra về thì L phía sau bất ngờ dùng tay đánh vào mặt, mũi, đạp vào ngực ông A té ngã bất tĩnh, được mọi người can và đưa đi cấp cứu. Sau khi điều trị và được Công an đưa đi giám định tỷ lệ thương tật 09% không xử hình sự nên ông A khởi kiện dân sự yêu cầu Trần Thanh L phải bồi thường cho ông số tiền 247.400.000đ gồm: Tiền thuốc 40.000.000đ, chi phí xe cộ đi lại 7.400.000đ, chi phí bồi dưỡng phục hồi chức năng sức khoẻ 20.000.000đ, thu nhập thực tế bị mất 06 tháng là 54.000.000₫ (06 tháng x 9.000.000đ/tháng), thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc 06 tháng là 36.000.000đ (06 tháng x 6.000.000đ/tháng), tổn thất tinh thần 50 tháng là 90.000.000₫ (50 tháng x 1.800.000đ/tháng). Trong thời gian điều trị L có hỗ trợ trước số tiền 7.000.000đ, nay yêu cầu L phải bồi thường số tiền còn lại 240.000.000đ.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Thông báo kết luận giám định ngày 22/12/2023; Biên nhận trả thẻ ngày 19/10/2023 (BV C1); Biên nhận trả thẻ ngày 24/8/2023 (BV C1); Phiếu thu ngày 19/10/2023 (BV C1); Phiếu thu ngày 24/8/2023 (BV C1); Tạm ứng ngày 19/10/2023 (BV C1 khoa tai mũi họng); Tạm ứng ngày 19/10/2023 (BV C1 khoa chỉnh hình); Thanh toán ngày 19/10/2023 (BV C1); Thanh toán ngày 24/8/2023 (BV C1); Biên lai thu tiền dịch vụ ngày 24/8/2023 (BV T); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV N); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV N); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV N); Phiếu thu ngày 14/8/2023 (BV N); Phiếu thu ngày 21/8/2023 (BV N); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV C2); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV C2); Phiếu thu ngày 09/8/2023 (BV C2); Phiếu thu ngày 10/8/2023 (BV C2); Phiếu thu ngày 12/8/2023 (BV H1); Chỉ định chụp X – Quang ngày 09/8/2023 (BV C2); Giấy ra viện ngày 21/8/2023 (BV N).

Bị đơn ông Trần Thanh L trình bày (Biên bản hoà giải ngày 20/8/2024): Thừa nhận có lỗi do đánh gây thương tích cho ông A như ông A đã trình bày, đã hỗ trợ bồi thường cho ông A được 7.000.000đ. Đồng ý bồi thường cho ông A có tổn thương về mặt, mũi theo biên bản tại cơ quan Công an huyện C lập số tiền là 103.000.000đ (đã trừ 7.000.000₫ đưa trước), còn các chi phí tổn thất tinh thần, mất thu nhập, bồi dưỡng thì không đồng ý bồi thường do không có khả năng. Tuy nhiên, hiện do khó khăn, làm thuê, không có nghề nghiệp ổn định, nuôi 02 con nhỏ, còn ở nhờ với cha mẹ không có tiền bồi thường cho ông A, để khi nào làm có tiền sẽ bồi thường.

Người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị C trình bày: Bà là vợ của ông A, bà không trực tiếp chứng kiến việc ông A bị đánh, trong thời gian ông A điều trị tại bệnh viện N1 08 ngày do bà trực tiếp chăm sóc, sau đó về nhà bà cũng không đi làm mà ở nhà chăm sóc cho ông A, bà thống nhất theo yêu cầu bồi thường của ông A.

Người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn O trình bày: Ông là anh ruột của ông A, sự việc L đánh ông A là do ông O không bán lúa vịt cho L nữa mà bán cho A, do trước đây bán cho L nhưng L trả tiền không đầy đủ. Từ đó mà L hăm doạ đòi đánh ông A nên ông O và ông A đến gặp mẹ của L nói rõ sự việc, khi ra về thì ông A bị L dùng tay đánh bất tỉnh nên ông đưa ông A đi cấp cứu. Qua sự việc này ông O không có yêu cầu gì, chỉ có ý kiến là đây về sau ông O không bán lúa vịt cho L nữa nên L đừng lên kiếm chuyện gì với ông.

Tại phiên toà sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn ông A yêu cầu ông L bồi thường tổng số tiền 236.691.000₫ gồm tiền thuốc 26.741.000đ (điều trị tại bệnh viện H2, bệnh viện N1, bệnh viện C3, hốt thuốc bắc, thuốc nam); tiền xe khám chữa bệnh 9.950.000đ (bệnh viện N1 04 lần x 500.000đ/lần, bệnh viện C3 02 lần x 2.600.000đ/lần, tiền xe hốt thuốc nam, thuốc bắc); bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 20.000.000đ; mất thu nhập 54.000.000₫ (06 tháng x 9.000.000đ/tháng); mất thu nhập của người nuôi bệnh 36.000.000₫ (06 tháng x 6.000.000/tháng); tổn thất tin thần 90.000.000₫ (50 tháng x 1.800.000đ/tháng), đồng ý khấu trừ 7.000.000₫ L đã hỗ trợ trước.
  • - Bị đơn ông L không thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn, ông L chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc theo toa do Hội đồng xét xử quyết định, tiền xe đồng ý bồi thường theo giá xe đi thực tế điều trị tại bệnh viện N1, tiền mất thu nhập của ông A đồng ý bồi thường trong 08 ngày nằm viện x 300.000đ/ngày = 2.400.000đ, mất thu nhập của người nuôi bệnh đồng ý bồi thường 08 ngày nuôi tại bệnh viện X = 1.600.000đ, đối với bồi thường phục hồi sức khoẻ và tổn thất tinh thần thì không đồng ý bồi thường.
  • - Người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị C thống nhất theo yêu cầu của ông A.
  • - Người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn O không có yêu cầu L bồi thường.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 309/2024/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú đã quyết định:

Áp dụng khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Các Điều 584, 585, 586, 590 BLDS 2015; khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn A.

Buộc ông Trần Thanh L có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Văn A số tiền 37.454.384₫.

Không chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của ông Lê Văn A đối với Trần Thanh L số tiền 192.236.616đ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Ngày 09/12/2024, nguyên đơn Lê Văn A kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu:

  • + Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng, của Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử không phát hiện vi phạm.
  • + Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 309/2024/DS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu phú về buộc Trần Thanh L phải bồi thường cho ông Lê Văn A tổn thất tinh thần số tiền 35.100.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên; sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đảm bảo theo đúng qui định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được HĐXX chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, đủ căn cứ xác định: Ngày 09/8/2023, Trần Thanh L có hành vi dùng tay, chân đánh, đạp trúng vào đầu, mặt ông Lê Văn A gây thương tích được mọi người đưa đi cấp cứu, chữa trị thương tích. Sau khi điều trị có kết quả giám định xác định tỷ lệ thương tích là 09% nên ông A K yêu cầu L phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm là phù hợp với quy định tại Điều 584, 590 của Bộ luật dân sự.

Với mức độ thương tật 9%, xét các chứng cứ chứng minh về các khoản bồi thường thiệt hại mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường các khoản gồm: Chi phí điều trị cho ông Lê Văn A 10.774.384đ; Chi phí đi lại trong quá trình điều trị tổng cộng là 1.800.000đ; Bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ là 2.340.000đ; Thu nhập thực tế bị mất của ông A tổng cộng 43 ngày x 300.000đ/ngày = 12.900.000đ và thu nhập của người chăm sóc ông A 2.600.000đ là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 584, 590 của Bộ luật dân sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ông A có kháng cáo yêu cầu bồi thường thêm thiệt hại về các khoản chi phí tại Bệnh viện C3 và chi phí uống thuốc bắc nhưng các toa thuốc điều trị tại bệnh viện C3 và và chi phí mua thuốc bắc không liên quan đến thương tích bị đơn gây nên, cũng như không theo chỉ định của bác sĩ nên không được HĐXX chấp nhận.

Riêng đối với tổn thất tinh thần, HĐXX xét thấy bị đơn là người hoàn toàn có lỗi, vô cớ tấn công gây ra thương tích gãy xương chính mũi, gãy xương sườn số VII cung trước bên phải, chấn thương phần mềm mạng sườn, chấn thương đầu, mặt. Với hậu quả trên đã gây đau đớn về thể chất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng giao tiếp và tâm lý cho nguyên đơn, cho nên mức bồi thường tổn thất tinh thần mà ấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường 14.040.000đồng (tương đương 0 tháng lương cơ bản) là chưa tương xứng nên HĐXX chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần là 35.100.000đồng tương đương 15 tháng lương cơ sở (15tháng x 2.340.000đ/tháng) là phù hợp khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn để buộc bị đơn Trần Thanh L có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Văn A các khoản bồi thường và số tiền gồm: Chi phí điều trị số tiền 10.774.384đ; chi phí đi lại trong quá trình điều trị số tiền 1.800.000đ; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ với số tiền 2.340.000đ; tiền mất thu nhập của ông A trong quá trình chữa trị và dưỡng bệnh với số tiền 12.900.000đ; tiền mất thu nhập của người chăm sóc ông A số tiền 2.600.000đ; tổn thất tin thần 35.100.000đ. Tổng cộng là 65.514.384₫ (sáu mươi lăm triệu năm trăm mười bốn nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng). Ông L bồi thường 7.000.000đ cho ông A nên còn phải bồi thường cho ông A số tiền 58.514.384đ (năm mươi tám triệu năm trăm mười bốn nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng).

[3] Về án phí dân sự:

Do tăng mức bồi thường thiệt hại nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền bồi thường;

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • + Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • + Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phúc xử:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của các nguyên đơn Lê Văn A. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 309/2024/DS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

Buộc ông Trần Thanh L phải bồi thường cho ông Lê Văn A 58.514.384 (năm mươi tám triệu năm trăm mười bốn nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

  • - Ông Trần Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.925.700đồng (hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn bảy trăm đồng).
  • - Ông Lê Văn A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Phòng KTNV&THA; Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

  • Số bản án: 128/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn A kiện yêu cầu Trần Thanh L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger