TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2025/DS-PT
Ngày: 25-6-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín và ông Phạm Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 69/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 124/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số D, đường số A, tổ A, thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Hoàng Nguyễn Ca D, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số G, đường N, tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ liên hệ: Số G, đường số E, thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc D1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số G, đường N, tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ liên hệ: Số G, đường số E, thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Bị đơn Hoàng Nguyễn Ca D.
2
Tại phiên tòa có mặt bà nguyên đơn bà Bùi Thị L, bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc D1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Vì chỗ quen biết nên ngày 23/3/2020 dương lịch, bà L có cho bà Hoàng Nguyễn Ca D mượn số tiền 156.200.000 đồng để làm công việc, bà D có hứa mượn sẽ trả góp hàng tháng, nhưng từ đó đến nay bà D chưa trả góp cho bà L số tiền đã mượn, mặc dù bà L đã đòi nhiều lần nhưng bà D vẫn cố tình né tránh không trả.
Quá trình khởi kiện, bà L yêu cầu bà Hoàng Nguyễn Ca D và ông Trần Quốc D1 phải liên đới trả cho bà L số tiền 286.627.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 156.200.000 đồng và số tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày khởi kiện là 130.427.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày: Bà D không có vay mượn tiền gì của bà Bùi Thị L, giấy mượn tiền mà bà L cung cấp cho Tòa án là hoàn toàn bịa đặt, lập giấy giả để chiếm đoạt tài sản của bà D. Do đó, bà D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ do nguyên đơn cung cấp; tuy nhiên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tại phiên toà: Bà Bùi Thị L thay đổi yêu cầu khởi kiện ban đầu như sau: Bà L yêu cầu bà D và ông D1 trả cho bà L số tiền nợ vay gốc là 156.000.000đồng và không yêu cầu tính lãi, yêu cầu vợ chồng bị đơn chịu lãi cho đến khi trả xong tiền nợ vay gốc. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 93; Điều 95; Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 147; Điều 262; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 274, Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, 30, 33, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của
3
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị L.
Buộc bà Hoàng Nguyễn Ca D và ông Trần Quốc D1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị L số tiền nợ vay gốc là 156.200.000 (bằng chữ: một trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 4 năm 2025, bị đơn Hoàng Nguyễn Ca D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
- - Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định, lời khai của các đương sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D kháng cáo bản án trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ông Trần Quốc D1. Xét thấy, ông Trần Quốc D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông D1 là đúng quy định của pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên đơn khởi kiện cho rằng ngày 23/3/2020 dương lịch, bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D đã vay của bà số tiền là 156.200.000 đồng và hẹn trả góp hàng tháng nhưng cho đến nay mặc dù bà đã đòi nhiều lần nhưng bà D vẫn không chịu trả nợ như cam kết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án bản gốc của tài liệu có nội dung:
“Dao 150.000.000 + 6200 = 156200.000
chốt nợ góp: 23 tháng 3.2020.DL”
Nguyên đơn khẳng định toàn bộ nội dung thể hiện trong giấy nợ ngày 23/3/2020 là do chính bị đơn viết vào trong sổ nợ của nguyên đơn; Quyển sổ này là quyển sổ ghi nợ của nguyên đơn. Khi ai vay mượn tiền của bà thì ghi vào sổ này để làm bằng chứng.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thừa nhận việc vay tiền của nguyên đơn, bị đơn cho rằng giấy chốt nợ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là hoàn toàn bịa đặt, nguyên đơn lập giấy giả để chiếm đoạt tài sản của bị đơn.
Theo yêu cầu của các đương sự Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã trưng cầu giám định dòng chữ số và chữ viết trên tờ giấy do nguyên đơn cung cấp có phải là chữ số và chữ viết do bà Hoàng Nguyễn Ca D viết ra hay không?
Tại Kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ viết, chữ số có nội dụng "150.000.000+6200= 156.200.000 góp: tháng 3.2020.DL” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết, chữ số đứng tên Hoàng Nguyên C trong các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 là do cùng một người viết ra.
Theo yêu cầu giám định lại của bà Hoàng Nguyễn Ca D, tại Kết luận giám định số 6365/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: chữ viết trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Hoàng Nguyễn Ca D trên các mẫu tài liệu so sánh ký hiệu từ M1 đến M17 là do cùng một người viết ra.
Từ các kết luận giám định trên có thể xác định bà D là người viết các
5
dòng chữ trên vào trong sổ ghi nợ của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà D cho rằng tờ giấy mà nguyên đơn cung cấp cho tòa về hình thức không thể hiện hợp đồng vay tiền, không có họ tên đầy đủ của người vay và người cho vay, người vay không công nhận ký tên, không có đơn vị vay tiền, không biết số tiền vay là bao nhiêu, không có địa chỉ cụ thể, không thể hiện ngày hết hợp đồng vay, không có lãi suất nên không có căn cứ cho rằng bà nợ nguyên đơn số tiền trên. Hội đồng xét xử xét thấy:
P không bắt buộc hình thức của hợp đồng vay phải bằng văn bản. Hợp đồng vay có thể giao kết bằng miệng, bằng sự thỏa thuận giữa các đương sự với nhau. Dòng chữ 150.000.000 + 6200 = 156200.000 góp: 23 tháng 3.2020.DL thể hiện trên tờ giấy do nguyên đơn cung cấp theo quy tắc số học có thể đọc được dòng chữ 156200.000 là một trăm năm mươi sáu triệu hai trăm ngàn và không thể đọc khác được. Trên tờ giấy do bà D viết trong sổ của bà L ngoài thể hiện số tiền vay còn thể hiện ngày, tháng, năm ghi giấy và thể hiện số tiền này sẽ được trả góp. Từ đó đã có thể xác định được nội dung trên là giấy bà D vay tiền của bà L. Mặc dù số tiền này không thể hiện đơn vị tiền tệ, tuy nhiên, nguyên đơn khởi kiện cho rằng tiền cho vay này là tiền Việt Nam đồng là phù hợp với cách vay tiền nhỏ lẻ ở các vùng thôn quê của Việt Nam và phù hợp với lời trình bày và các chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp. Qua kết quả giám định đã xác định dòng chữ này là do bị đơn viết trong sổ của nguyên đơn nhưng bị đơn không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh lý do mình viết các dòng chữ này vào sổ của nguyên đơn. Việc bị đơn có ký tên ghi rõ họ tên hay không là không cần thiết.
Về nghĩa vụ liên đới: Việc bà D thực hiện giao dịch vay tiền của nguyên đơn được xác lập trong thời kỳ hôn nhân giữa bà D và ông D1. Bà D và ông D1 không chứng minh được đây là nghĩa vụ riêng của bà D trong thời kỳ hôn nhân với ông D1 bàng văn bản thỏa thuận hoặc bằng chứng cứ nào khác. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án ông D1 không hợp tác, không cung cấp ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đống xét xử không có cơ sở để xem xét mà buộc ông D1 phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà D trả nợ chung là phù hợp.
Từ những nhận định trên có cơ sở để xác định, bị đơn có vay tiền của nguyên đơn theo giấy chốt nợ ngày 23/3/2020 với số tiền gốc là 156.200.000 đồng. Do đó, xác định đây là hợp đồng vay tài sản, không có thỏa thuận lãi suất. Tại thời điểm giao kết chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, nội dung thỏa thuận trên nguyên tắc tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Mặc dù, bị đơn không thừa nhận khoản tiền nợ đối với nguyên đơn nhưng bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nên Tòa án nhân dân huyện Đức Linh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới ngoài lời trình bày và các chứng cứ xuất trình tại Tòa án cấp sơ thẩm nên không có căn cứ chấp
6
nhận kháng cáo của bà Hoàng Nguyễn Ca D như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm như tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 92; 93; 95; 227, 228, 235; khoản 1 Điều 147; Điều 262; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 274, 280, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
- - Điều 27, 30, 33, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị L.
Buộc bà Hoàng Nguyễn Ca D và ông Trần Quốc D1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị L số tiền nợ vay gốc là 156.200.000 (bằng chữ: một trăm năm mươi sáu triệu hai trăm nghìn) đồng.
7
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Hoàng Nguyễn Ca D và ông Trần Quốc D1 phải chịu số tiền 7.810.000 (bằng chữ: bảy triệu, tám trăm mười nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
- Trả lại cho bà Bùi Thị L số tiền 7.165.000 đồng (bằng chữ: bảy triệu, một trăm sáu mươi lăm nghìn) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo các biên lai thu tiền số: 0004539 ngày 29 tháng 5 năm 2024.
3. Về chi phí giám định:
- Buộc bà Hoàng Nguyễn Ca D và ông Trần Quốc D1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Bùi Thị L số tiền 3.060.000 đồng (bằng chữ: Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn) chi phí giám định.
- Trả lại cho bà Hoàng Nguyễn Ca D số tiền 1.789.000 đồng (bằng chữ: một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn) tạm ứng chi phí giám định lại đã nộp tại biên bản giao nhận lập ngày 04/10/2024 giữa bà D với Tòa án nhân dân huyện Đức Linh. Tuy nhiên, cần giao lại cho cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án về án phí và thực hiện nghĩa vụ đối với nguyên đơn như đã tuyên.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị đơn bà Hoàng Nguyễn Ca D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005413 ngày 08/5/2025. Bà D đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
5. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 25/6/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 128/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị L - Hoàng Nguyễn Ca D "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
