1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 128/2025/DS-PT
Ngày 25/3/2025
V/v: “Tranh chấp ranh đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
- - Các thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai. Bà Võ Bích Hải.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 507/2024/TLPT-DS ngày 30/12/2024 về việc: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 156/2024/DSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 06/01/2025) (Ông C có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hồ Thị T – Công ty TNHH MTV H - Thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
Bị đơn:- Ông Võ Văn B, sinh năm 1958 (có mặt)
- Bà Lê Thị Tuyết C1, sinh năm 1963 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng:
- Ông Võ Văn T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).
- Ông Trần Văn C2, sinh năm 1955; Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Võ Văn Đ trình bày: Ông được cha ruột tặng cho phần đất có diện tích 2046.7m², thuộc thửa 265, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ngày 24/12/2019 ông được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên. Quá trình sử dụng đến năm 2021 ông có để lại cho ông Võ Văn T1 một lối đi có chiều ngang 0,6m, nhưng sau đó ông T1 không còn sử dụng nữa và ông Võ Văn B đã chiếm luôn lối đi này. Mặc dù, vụ việc đã được hoà giải ở UBND xã Đ nhưng không thoả thuận được. Vì vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông B, bà C1 trả lại lối đi theo đo đạc thực tế là 13.2m².
Bị đơn ông Võ Văn B trình bày: Nguồn gốc phần đất ông đang sử dụng được cha ruột là ông Võ Văn M tặng cho trước năm 1998, về diện tích được tặng cho bao nhiêu thì ông không nhớ rõ. Đến năm 1998 thì ông cất nhà ở cho đến nay, khi cất nhà ông có chừa lại một phần đất cặp ranh ông Đ để làm lối đi và ông có cất mái hiên, lót đan. Đến đầu năm 2021, ông Đ xây dựng lại nhà mới và ông Đ đã xây hết luôn lối đi của ông Võ Văn T1 và lấn chiếm của ông một phần đất phía sau, không còn đi lại được. Do ông T1 không có lối đi nên ông T1 đã làm đơn khởi kiện ở UBND xã Đ, kết quả hòa giải ở UBND xã ông đã thống nhất cho ông T1 lối đi vĩnh viễn có chiều ngang 0,6m và chiều dài 24m (lối đi này nằm trong mái hiên nhà ông). Đến năm 2022 ông T1 chuyển nhà đi nơi khác sinh sống nên đã bán lại lối đi có chiều ngang 0,6m x dài 24m cho ông với giá 30.000.000 đồng và hai bên có làm giấy tờ mua bán bằng giấy tay. Tuy nhiên, hiện nay lối đi này ông Đ đã xây dựng nhà và tường rào không còn đi được nữa, chỉ còn phần phía trước 13.2m². Nay ông, cũng muốn thương lượng trả giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp cho ông Đ là 5.000.000 đồng. Trường hợp ông Đ không đồng ý thì ông yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Bị đơn, bà Lê Thị Tuyết C1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất mà bà và ông B đang sử dụng là của cha chồng là ông Võ Văn M tặng cho, bà và ông B đã cất nhà trên phần đất này từ năm 1998. Khi cất nhà có để lại một lối đi giáp với phần đất của ông Đ, phần lối đi này có cất mái hiên và lót đan cùng thời điểm cất nhà và sử dụng ổn định cho đến nay. Năm 2021, ông Đ xây dựng lại nhà nhưng đã lấn chiếm một phần đất của bà ở phía sau, còn phía trước thì ông Đ để lại một khoảng trống. Vào khoảng năm 2022, ông Đ làm thủ tục tách giấy cho ông B, ông Đ có chỉ ranh cho đoàn đo đạc đo phần đất bên nhà bà để làm giấy và ranh được xác định bên phía tường nhà ông Đ. Tuy nhiên, từ khi đo đạc đến nay ông B vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà cũng không biết đoàn đo đạc đó của cơ quan nào. Do phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 13.2m² là của gia đình bà nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và cũng không đồng ý trả lại giá trị đất cho ông Đ.
3
Người làm chứng, ông Võ Văn T1 trình bày:
Trước đây ông được cha tặng cho phần đất phía sau nhà ông B và cha ông có để lại một lối đi bên phía nhà ông Đ. Tuy nhiên, sau khi cha ông qua đời thì ông Đ đã xây dựng lại nhà vào năm 2021 và xây dựng bít luôn lối đi của ông. Do anh em không thương lượng được nên ông đã gửi đơn yêu cầu UBND xã Đ giải quyết lối đi cho ông. Khi được mời lên UBND xã để giải quyết thì ông Đ có hứa sẽ chừa lại lối đi cho ông nhưng ông Đ không thực hiện lời hứa, ông Đ đã xây dựng hết luôn lối đi và UBND xã cũng không giải quyết được. Sau đó ông B nghĩ tình anh em không có lối đi nên mới cho ông lối đi vĩnh viễn, lối đi này nằm dưới mái hiên nhà ông B và có lót đan từ khi ông B xây nhà năm 1998. Việc ông B cho lối đi có lập biên bản và được ký tên tại UBND xã Đ. Tuy nhiên, đến tháng 9/2022 ông đã chuyển nhà đi nơi khác sinh sống nên có bán lại lối đi mà ông B đã cho ông với giá 30.000.000đồng. Khi bán lại lối đi hai bên có lập giấy tờ mua bán vào ngày 20/11/2022 và ông đã nhận đủ số tiền 30.000.000đồng.
Vì vậy, phần đất đang tranh chấp có chiều ngang 0,6m x dài 24m là của ông B sử dụng từ năm 1998 và đến năm 2021 mới cho ông để làm lối đi chứ không phải của ông Đ cho ông làm lối đi.
Người làm chứng, ông Trần Văn C2 trình bày:
Ngày 19/3/2021, tại vị trí thửa đất các bên đã thoả thuận như sau: Ông Võ Văn Đ đồng ý dành lối đi chiều ngang 06 tấc trên phần đất của mình cho ông T1, ông Võ Văn B đồng ý cắt 01 phần mái nhà sau để tạo lối đi thuận lợi ra phía trước đường chính. Sau đó ông T1 đã chuyển đi nơi khác sinh sống, ông B và bà C1 lấn chiếm dùng gạch xây bức tường, làm cổng rào trên lối đi này. Hành vi bao chiếm phần đất có chiều ngang 06 tấc của ông B là không đúng, thời ông khẳng định diện tích đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Võ Văn Đ.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 156/2024/DSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Võ Văn B và bà Lê Thị Tuyết C1 phải trải lại phần đất có diện tích 13.2m² được ký hiệu (A) trong Bản trích đo địa chính số 521/VPĐKĐĐ ngày 07/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử. Nguyên đơn đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Hồ Thị T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Phần đất tranh chấp tại vị trí A nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ. Bị đơn không có khiếu nại hay phản tố.Ông T1 chuyển nhượng cho ông B phần lối đi này là không phù hợp theo quy định pháp luật. Ông T1 được đi vĩnh viễn chứ không được quyền chuyển nhượng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là co căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
4
Ông Võ Văn B, bà Lê Thị Cẩm T2 trình bày: Phần đất ông Đ đứng tên là đất của cha mẹ nhưng ông Đ tự kê khai. Lúc cha còn sống thì cho đất cho ba anh em và có lối đi nhưng khi cha mất thì ông Đ không cho ông T1 đi nên ông T1 đưa ra chính quyền. Tại ủy ban nhân dân xã thì ông Đ cam kết cho ông T1 lối đi vĩnh viễn. Ông T1 không còn sử dụng do đã chuyển nhượng toàn bộ. Ông có mua lại ông T1 đường đi này là 30.000.000 đồng. Nay, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh. Phần lối đi này ông B đã mua lại từ ông T1 là 30.000.000 đồng. Mặc dù nằm trong giấy chứng nhận của ông Đ nhưng ông Đ đã thỏa thuận tại Ủy ban nhân dân xã cho ông T1 lối đi vĩnh viễn nên quyền lợi của ông Đ không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- [2] Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp lối đi có diện tích 13,2m² . Nguyên đơn yêu cầu công nhận phần diện tích đất có lối đi trên là của nguyên đơn. Bị đơn không thừa nhận.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 265, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ là của cha ruột ông Đ, ông B và ông T1 để lại. Ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2019, với diện tích 2046,7m². Trên thửa đất
5
có nhà của ông Đ, ông B, ông T1. Năm 2021 có tranh chấp lối đi giữa ông T1 và ông Đ, chính quyền địa phương giải quyết lối đi giải quyết tranh chấp này.
Ngày 19/3/2021, các bên đã thống nhất dành cho ông T1 một lối đi vĩnh viễn và được lập thành biên bản. Theo biên bản thoả thuận mốc ranh lối đi thì lối đi dành cho ông T1 có chiều ngang 0,6m tính từ vách tường nhà ông Đ qua, đồng thời ông B phải tháo dỡ một phần nhà sau để cho ông T1 đi lại thuận lợi. Mặc dù, trong biên bản thoả thuận mốc ranh lối đi ngày 19/3/2021, không thể hiện rõ phần đất dành cho ông T1 lối đi 0,6m là của ông Đ hay ông B, nhưng nội dung biên bản ghi nhận lối đi này cho ông T1 vĩnh viễn. Nguyên đơn và bị đơn đều xác định lối đi này dành cho ông T1 vĩnh viễn (vì đất của ông T1 không có lối đi). Phần đất của ông Đ tiếp giáp với lối đi đã được phân định bằng tường nhà và bức tường rào kiên cố chạy dài từ phía sau cho đến lộ giao thông. Lối đi này UBND xã Đ đã giải quyết cho ông T1, đồng thời ông B và ông Đ đều đồng thuận cho vĩnh viễn nên ông T1 nên ông Đ không có quyền đòi lại lối đi này.
Xét phần lối đi mặc dù nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ nhưng ông Đ đã đồng ý để ông T1 đi lối này, tuy chưa tách thửa sang tên nhưng được các bên nguyên đơn, bị đơn thừa nhận là của ông T1. Sau đó, ông T1 không sử dụng phần lối đi này vào phần nhà nên ông T1 chuyển nhượng toàn bộ lại cho ông B kể cả phần lối đi trước đây với giá là 30.000.000 đồng. Ông B và ông T1 có lập hợp đồng viết tay vào ngày 20/11/2022, nhưng hiện nay lối đi này chỉ còn lại một phần với diện tích 13.2m² nên ông B được quyền sử dụng phần còn lại của lối đi này là phù hợp. Do đó, yêu cầu khởi kiện buộc ông B trả lại phần đất còn lại của lối đi với diện tích 13.2m² là không có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.
- [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Võ Văn Đ phải chịu. Ông Đ được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007372 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.
- [4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 6.000.000 đồng, ông Võ Văn Đ phải chịu, ông Đ đã nộp xong.
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004391 ngày 30/9/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí. Ông Đ đã nộp đủ.
- [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
6
Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Võ Văn B và bà Lê Thị Tuyết C1 phải trải lại phần đất có diện tích 13.2m² được ký hiệu (A) trong Bản trích đo địa chính số 521/VPĐKĐĐ ngày 07/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Võ Văn Đ phải chịu. Ông Đ được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007372 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 6.000.000 đồng, ông Võ Văn Đ phải chịu, ông Đ đã nộp xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004391 ngày 30/9/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí. Ông Đ đã nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
7
|
Thành viên Hội đồng xét xử Phan Thị Tuyết Mai - Võ Bích Hải |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Số bản án: 128/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ranh đất
