Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 24/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Đỗ Thị Lài
    • Ông Trần Văn Việt
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 07/10/2024, đối với bị cáo:

Lê Hồng P, sinh năm 1994 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Tổ E, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Hồng P1 (sinh năm 1973) và bà Lê Thị Hồng L (sinh năm 1971); bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 16/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Quốc B, sinh năm 1979 – Luật sư Văn phòng L2 Đoàn Luật sư tỉnh B

* Người làm chứng: Ông Trần Ngọc L1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ E, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, Công an thị xã P, tỉnh BR-VT phối hợp Phòng CSĐTTP về TTXH và Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao Công an tỉnh B-VT; Công an xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT kiểm tra hành chính căn nhà do Trần Ngọc L1, sinh năm 1985 thuê để ở tại địa chỉ: Tổ E, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT đã phát hiện Lê Hồng P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 27 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 79 viên nén màu nâu, hình vuông, trên một bề mặt có dòng chữ “PATEK PHILIPPE”; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen; 01 cân tiểu ly; 20 gói nylon không chứa gì. P khai, số ma túy bị thu giữ trên là ma túy dạng khay và ma túy dạng thuốc lắc của P cất giấu nhằm mục đích bán lại cho người khác.

    Quá trình điều tra, Lê Hồng P khai nhận: Do bản thân có sử dụng ma túy nên Lê Hồng P nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và bán lại nhằm kiếm lời. Khoảng 07 giờ ngày 09/04/2024, Lê Hồng P thuê xe taxi (không nhớ biển kiểm soát) đi đến khu vực quận G, TP . và điện thoại cho người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ sống ở TP .) hỏi mua 50 gam ma túy khay với giá 28.000.000 đồng và 100 viên thuốc lắc với giá 15.000.000 đồng thì người đàn ông trên đồng ý bán. Sau khi chuyển số tiền 43.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng theo yêu cầu của người đàn ông trên (không nhớ số tài khoản) tại một cửa hàng điện thoại gần đó, P vào ngồi chờ tại một quán cà phê thuộc quận G, TP . (không nhớ địa chỉ). Đến khoảng 8 giờ cùng ngày, có người giao hàng thuê liên hệ giao cho P 01 (một) hộp giấy dán kín (P hiểu là bên trong có ma túy), P trả 60.000 đồng cho người giao hàng rồi và gọi xe Taxi (không nhớ biển số) đi về nhà bạn tên Trần Ngọc L1 (tên gọi khác là C). Tại đây, P cất giấu hộp giấy vào tủ quần áo trong phòng bếp. Sau đó, đợi lúc L1 đi ra ngoài, P mở hộp giấy ra kiểm tra thấy bên trong có 100 viên ma túy dạng thuốc lắc và 01 gói ma túy khay. Phước chia gói ma túy khay thành 32 gói nhỏ rồi cất giấu toàn bộ ma túy vào vị trí cũ bên trong tủ quần áo.

    Vào tối các ngày 12/04/2024 đến 14/04/2024, P lấy một ít ma túy khay và ma túy dạng thuốc lắc (khoảng 5 -7 viên thuốc lắc và 02 gói ma túy khay) cất giấu vào trong người rồi đi đến quán Bar D thuộc phường P, TP ., tỉnh BR-VT để chơi và sử dụng ma túy, nếu ai hỏi mua ma túy thì P sẽ bán. P đã sử dụng được 06 (sáu) viên thuốc lắc và 01 gói ma túy khay và bán được 15 viên thuốc lắc với giá 220.000đ/01 viên và 02 (hai) gói ma túy khay (nửa hộp năm) với giá 2.200.000 đồng/01 gói. P đã thu lợi từ việc bán ma túy được tổng số tiền 7.700.000 đồng. Số ma túy còn lại, P cất giấu trong tủ quần áo chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an thu giữ cùng tang vật khác.

    * Kết quả giám định:

    Tại bản Kết luận giám định số 253/KL- KTHS-MT, ngày 21/4/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận:

    • “- Mẫu A1 có khối lượng 37,9888 gam, là ma túy, loại Ketamin.
    • - Mẫu A2 có khối lượng 35,1963 gam, là ma túy, loại MDMA.

    * Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

    • - 01 phong bì niêm phong vụ số 253/KL- KTHS-MT ngày 21/4/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B (là phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định);
    • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imei: 357002045768434;
    • - 01 (một) cân tiểu ly màu trắng; 20 túi nylon (không chứa gì).

    Các vật chứng nêu trên được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản chờ xử lý.

  2. Tại Cáo trạng số 130/CT-VKSBRVT-P1 ngày 05/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Lê Hồng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Hồng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

    Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 16 năm đến 18 năm tù.

    Vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly màu trắng và 20 túi nylon (không chứa gì).
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu N màu đen, số imei: 357002045768434.
    • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 7.700.000đ sung quỹ Nhà nước.
  4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa:

    4.1. Luật sư bào chữa cho bị cáo:

    • Về tội danh: Nhất trí không tranh luận.
    • Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

    4.2. Bị cáo Lê Hồng P: đồng ý lời bào chữa của luật sư; bị cáo không tranh luận.

    Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo.

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Lê Hồng P là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, Lê Hồng P đã liên hệ, thỏa thuận với người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực thuộc Quận G, Tp . và mua 50 gam ma túy dạng khay với giá 28.000.000 đồng; 100 viên thuốc lắc với giá 15.000.000 đồng rồi mang về nhà của Trần Ngọc L1 tại tổ E, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT để cất giấu. P đã chia gói ma túy khay thành 32 gói nhỏ để bán lại cho người có nhu cầu. Từ ngày 12/04/2024 đến 14/04/2024, P đã bán được 15 viên thuốc lắc với giá 220.000đ/01 viên và 02 gói ma túy khay (nửa hộp năm) với giá 2.200.000 đồng/01 gói, thu lợi từ việc bán ma túy được tổng số tiền 7.700.000 đồng. Số ma túy còn lại, P cất giấu trong tủ quần áo chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an thu giữ cùng tang vật khác.

Căn cứ kết quả giám định về số ma túy thu giữ của Lê Hồng P có tổng khối lượng là 37,9888 gam ma túy loại Ketamin và 35,1963 gam ma túy loại MDMA. Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về tính tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lê Hồng P như sau: Tỷ lệ phần trăm khối lượng 37,9888 gam ma túy dạng Ketamine là: (37,9888 : 300) x 100% = 12,66%; Tỷ lệ phần trăm 35,1963 gam ma túy loại MDMA là: (35,1963 : 100) x 100% = 35,19%. Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy thu giữ trong vụ án là: 12,66% + 35,19% = 47,85%.

Từ diễn biến hành vi của bị cáo và kết luận giám định, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Lê Hồng P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy, các chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây tâm lý bất ổn trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, biết rõ hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bán ma túy nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ Luật Tố Tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly màu trắng và 20 túi nylon (không chứa gì).
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu N màu đen, số imei: 357002045768434.

[6] Bị cáo thu lợi bất chính 7.700.000đ từ việc bán ma túy nên buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

    Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hồng P 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tính từ ngày 16/4/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly màu trắng và 20 túi nylon (không chứa gì).
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu N màu đen, số imei: 357002045768434.

    (Toàn bộ vật chứng đang được bảo quản tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 101/BB-CTHADS ngày 06/9/2024).

    • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 7.700.000đ (bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
  3. Án phí sơ thẩm:

    Bị cáo Lê Hồng P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Thi hành án hình sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger