Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và bà Trần Thị Ánh Hằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thị L, sinh ngày 10-3-1981 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Q (chết); có chồng là Phạm Công Q1 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1973 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị H: Bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1998, nơi cư trú: tổ I, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 2000, nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; (vắng mặt).
  • Ông Phạm Văn N, sinh năm 1974, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • Ông Bùi Văn C, sinh năm 1983, nơi cư trú: đường số B, trung tâm thương mại V, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1974, nơi cư trú: tổ F, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • Ông Lê Văn T, sinh năm 1951, nơi cư trú: tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
  • Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1988, nơi cư trú: khu phố C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; (vắng mặt).

Người làm chứng: Huỳnh Công B, sinh năm 1983 (vắng mặt); Trần Duy K, sinh năm 2002 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị L không biết chữ nên chưa học và chưa được cấp giấy phép lái xe mô tô. Hằng ngày, L cùng H (chị ruột) và gia đình đến Miếu bà Bàu M tại phường N, thị xã T, tỉnh An Giang để làm công quả. Khoảng 03 giờ ngày 17-3-2024, L lấy xe mô tô biển số 67E1-378.99 của ông Lê Văn T (cha ruột L) điều khiển đến Miếu bà Bàu M làm công quả. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô chở H về lại nhà, lưu thông trên tuyến tránh Quốc lộ I, hướng từ thị xã T đến thành phố C. Khi đến giao lộ tuyến tránh Quốc lộ I - Lê Hồng P, đoạn Km 117 + 900 thuộc khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, L không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau, thiếu chú ý quan sát và lấn lề trái va chạm vào thành thùng bên phải xe ô tô biển số 67C-011.35 do Phạm Văn N điều khiển ngược chiều, đang bật tín hiệu rẽ trái sang đường L làm L, H và xe mô tô ngã xuống đường, cùng thời điểm này, xe ô tô tải biển số 68C-155.76 do Nguyễn Trọng T2 điều khiển lưu thông phía sau xe ô tô tải của N chạy đến cuốn H, L và xe mô tô vào gầm xe tải. Hậu quả làm H chết tại hiện trường, L bị thương được đưa đi bệnh viện điều trị.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67E1-378.99 (đã trao trả cho Lê Văn T); 01 xe ô tô tải biển số 68C-155.76 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy thế chấp ngân hàng, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DB0968219, giấy chứng nhận bảo hiểm số [...] (đã trao trả cho ông Bùi Văn C); 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] và căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T2 (đã trao trả cho Nguyễn Trọng T2); 01 xe ô tô tải biển số 67C-011.35 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000462 mang tên Nguyễn Thanh N1, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0633409, 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Phạm Văn N (đã chuyển giao Phòng C1 - Công an tỉnh C1 xử phạt vi phạm hành chính); 01 đĩa DVD.

Tại kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thực nghiệm điều tra và kết quả khám nghiệm tử thi phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 17-3-2024 của Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ Công an tỉnh C1 ghi nhận: Phạm Văn N và Nguyễn Trọng T2 có 0,00miligam/lít khí thở.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 18-3-2024 của Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh A ghi nhận: Lê Thị H có nồng độ cồn 0,10 gam/lít máu; âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 66/24/KLGĐTT-TTPY ngày 18-3-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A ghi nhận: Lê Thị H chết do nguyên nhân vỡ toác xương hộp sọ, phòi mất mô não.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 370/24/KLTTCT-TTPY ngày 25-5-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A ghi nhận: Lê Thị L, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 27%.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thoả thuận bồi thường với nhau, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 104/CT-VKSCĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Lê Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Thị L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Đại diện hợp pháp của bị hại xác định trước ngày xét xử bị cáo có bồi thường thiệt hại thêm cho gia đình. Tại phiên tòa, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, xin bãi nại và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Văn T xác định chiếc xe mô tô biển số 67E1-378.99 đã nhận lại, khi bị cáo H lấy xe thì ông T hòan toàn không biết vì không có mặt ở nhà. Bị cáo H hiện nay đang sống cùng với ông và là người trực tiếp chăm sóc ông vì các con đã có gia đình riêng. Xe bị hư hỏng nặng nhưng không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Trọng T2, Phạm Văn N, Bùi Văn C, Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Thanh N1 và người làm chứng Huỳnh Công B, Trần Duy K vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thị L từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Về trách nhiệm dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không đề cập xem xét giải quyết.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Trọng T2, Phạm Văn N, Bùi Văn C, Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Thanh N1 và người làm chứng Huỳnh Công B, Trần Duy K vắng mặt, mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Thị L đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 17-3-2024, tại Km 117 + 900 thuộc khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo L không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 67E1-378.99 chở Lê Thị H từ thị xã T về lại nhà ở khu vực C không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau và lấn sang làn đường bên trái va chạm vào thành thùng bên phải xe ô tô tải biển số 67C-011.35 do Phạm Văn N điều khiển ngược chiều, đang bật tín hiệu rẽ trái sang đường L làm L, H và xe mô tô ngã xuống đường; cùng thời điểm này, xe ô tô tải biển số 68C-155.76 do Nguyễn Trọng T2 điều khiển lưu thông phía sau xe ô tô tải của N chạy đến cuốn H, L và xe mô tô vào gầm xe tải, hậu quả làm H chết tại hiện trường; L bị thương được đưa đi bệnh viện điều trị.

Hành vi nêu trên của bị cáo L vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về việc khi tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng con người, tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân bất bình và lo lắng khi tham gia giao thông. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị hại Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn N, Nguyễn Trọng T2 không có lỗi trong vụ án này, ông N, ông T2 điều khiển xe đi đúng phần đường của mình nhưng do bị cáo điều khiển xe không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau và lấn sang phần đường bên trái gây tai nạn dẫn đến hậu quả như trên, điều đó cho thấy lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và trong thời gian cho tại ngoại bị cáo không vi phạm nào khác, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải của mình. Mặc khác, bị cáo không được đi học, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế, bị cáo với bị hại là chị em ruột, sau khi gây ra tai nạn đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật, quy định của địa phương, không phạm tội hoặc vi phạm nào khác. Điều này thể hiện bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được cải tạo, chấp hành án dưới sự giám sát, giáo dục tại địa phương là điều kiện để bị cáo tiếp tục lao động tạo thu nhập, chăm sóc gia đình, người thân và là cơ hội để bị cáo tự tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật và cũng phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, không gây nguy hiểm cho xã hội và cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô biển số 67E1-378.99 đã trao trả cho ông Lê Văn T; 01 xe ô tô tải biển số 68C-155.76 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy thế chấp ngân hàng, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DB0968219, giấy chứng nhận bảo hiểm số [...] đã trao trả cho ông Bùi Văn C; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] và căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T2 đã trao trả cho Nguyễn Trọng T2; 01 xe ô tô tải biển số 67C-011.35 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000462 mang tên Nguyễn Thanh N1, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0633409, 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Phạm Văn N đã chuyển giao Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh C1 xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết tiếp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã tự nguyện thoả thuận bồi thường với nhau, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác:

Ông Phạm Văn N điều khiển xe ô tô tải biển số 67C-011.35 vượt tải trọng cho phép nhưng không phải lỗi chính gây tai nạn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển xử phạt hành chính là phù hợp.

Bị cáo Lê Thị L tự ý lấy xe mô tô biển số 67E1-378.99 của ông Lê Văn T điều khiển tham gia giao thông đường bộ, ông T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không quy kết trách nhiệm hình sự đối với ông T là có căn cứ.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Lê Thị L 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo Lê Thị L là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị L cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lê Thị L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng T2, Phạm Văn N, Bùi Văn C, Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Thanh vắng M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Châu Đốc;
  • - Công an thành phố Châu Đốc;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Châu Đốc;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Châu Đốc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Lê Thị Loan - VPQĐTGGTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger