|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và bà Trần Thị Bích Thuỷ.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thanh Huế, Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc V
(Tên gọi khác: Cu L) sinh ngày 04/12/1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số A V, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...]; cấp ngày 29 tháng 3 năm 2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH, Bộ C1; nghề nghiệp: Bán hàng rong; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 và Tôn Nữ Thị L1, sinh năm 1969; Vợ con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: có 01 (Ngày 23/11/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 265/2017/HSST).
Về nhân thân: Ngày 16/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 tháng 15 ngày tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 năm theo Bản án số 45/2013/HSST
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/11/2023 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị T; sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tôn Nữ Thị L1, sinh năm 1969; Nơi cư trú: số A V, phường X, thành phố H; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hà P, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: 3 N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 28/11/2023, Nguyễn Quốc V sau đi bán hàng rong về thì đi bộ về nhà tại số A V, phường X, thành phố H. Khi đi bộ qua dãy nhà trọ ở địa chỉ số C N, phường P, thành phố H, V phát hiện phòng trọ của chị Lê Thị T đang mở cửa, sáng đèn nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, khi nhìn thấy chị T ra khỏi phòng trọ để vào nhà vệ sinh thì V lén lút đột nhập vào phòng trọ để tìm kiếm tài sản thì phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của chị T đang sạc pin trên bàn học. V đi đến lấy trộm điện thoại của chị T bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi nhà trọ và đi bộ về nhà. Chị T quay về phòng trọ thì phát hiện mất điện thoại nên báo cho chị Nguyễn Thị Hà P ở phòng trọ bên cạnh biết. Sau đó, chị P dùng điện thoại của mình gọi nhiều lần vào số điện thoại của chị T nhưng V không trả lời cuộc gọi. Đến khoảng 04 giờ, khi V nhận cuộc gọi thì chị P giả vờ nhờ V đến đón chở đi học thì V nói “Ừ” rồi cúp máy. Một lúc sau, V tháo lấy sim số điện thoại 0941.538.xxx của chị T gắn vào điện thoại Oppo F5 mà Vương mượn của mẹ là bà Tôn Nữ Thị L1 để sử dụng rồi giả vờ là chị T để nhắn tin với chị P và mượn số tiền 1.000.0000 đồng và nhờ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của người lạ mà V đang mua hàng hóa trên mạng xã hội. Do biết người nhắn tin mượn tiền không phải là T nên chị P giả vờ không có tiền trong tài khoản mà hẹn gặp V để đưa tiền mặt. Sau đó, chị T trình báo sự việc cho Công an phường P, thành phố H. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đi đến đường C, khu vực phía sau sân vận động T1 thành phố H để gặp chị P thì bị Cơ quan Công an phường P phát hiện V và thu giữ tang vật.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc V khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
* Vật chứng tạm giữ:
- 01 Điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh dương, số I: 356720114713970, Imei2: 356720113723400, số máy MGD23J/A, số seri: F2LDWL004D, máy đã qua sử dụng.
- 01 Sim điện thoại mạng vinaphone, số sim: 0941.538.xxx.
- 01 Điện thoại Oppo F5, Imei: 867453032864293, Imei2 867453032864285, màu hồng nhạt, có mặt kính cường lực bảo vệ màn hình bị nứt vỡ, màn hình bị bung so với khung sườn, mặt lưng điện thoại có một vết nứt vỡ, máy bị trầy xước, tróc sơn, đã qua sử dụng.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 249/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 Điện thoại di động Iphone 12 promax, màu xanh, đã qua sử dụng số Imeil: 356720114713970, Imei2: 356720113723400 có trị giá 8.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động Iphone 12 promax, màu xanh cùng thẻ sim điện thoại số 0941.538.xxx cho chị Lê Thị T là chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu V bồi thường gì về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSTPH ngày 11 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt Nguyễn Quốc V từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Oppo F5, Imei: 867453032864293, Imei2 867453032864285, màu hồng nhạt. Quá trình điều tra làm rõ, điện thoại này V mượn của mẹ là bà Tôn Nữ Thị L1. Bà L1 không biết V sử dụng điện thoại này dùng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà L1.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không phải xem xét, giải quyết.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Trên cơ sở lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 02 giờ ngày 28/11/2023, tại số nhà C N, phường P, thành phố H, Nguyễn Quốc V đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị Lê Thị T 01 điện thoại di động Iphone 12 promax, màu xanh có trị giá 8.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Quốc V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Với hành vi và hậu quả nêu trên, bị cáo Nguyễn Quốc V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản cáo trạng số 107/CT-VKSTPH ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Quốc V có 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” nên lần phạm tội này bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V có 01 tiền án và nhiều lần bị xử phạt về tội “trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không chịu cải tạo để trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội thì cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế là phù hợp. Xét bị cáo không có tài sản, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Oppo F5, Imei: 867453032864293, Imei2 867453032864285, màu hồng nhạt thu giữ của bị cáo V. Quá trình điều tra làm rõ, điện thoại này của bà Tôn Nữ Thị L1 cho V mượn, bà L1 không biết V dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bà L1.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không phải xem xét, giải quyết.
[7] Các vấn đề khác: Đối với hành vi Nguyễn Quốc V sử dụng số điện thoại của chị T rồi giả vờ là chị T để nhắn tin mượn chị P số tiền 1.000.000 đồng nhằm mục đích chiếm đoạt. Tuy nhiên, chị P đã biết việc chị T bị mất điện thoại nên không tin tưởng và không giao tiền cho V. Do đó, hành vi này của Nguyễn Quốc V không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V (Tên gọi khác: Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V (Tên gọi khác: Cu Lỳ) 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giam 28/11/2023. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Trả lại cho bà Tôn Nữ Thị L1 01 điện thoại Oppo F5, Imei: 867453032864293, Imei2 867453032864285, màu hồng nhạt; có mặt kính cường lực bảo vệ màn hình bị nứt vỡ, màn hình bị bung so với khung sườn, mặt lưng điện thoại có một vết nứt vỡ, máy bị trầy xước, tróc sơn, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản Quyết định chuyển vật chứng số: 79/QĐ-VKSTPH ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế và biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 85/2024/TLST-HS ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Quốc V(Tên gọi khác: Cu L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
