|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 128/2024/HS-PT Ngày: 22 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hữu Hồng |
| Ông Nguyễn Văn Thanh |
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 132/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Thị M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 88/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị M, sinh năm 1972 tại: Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 05/10; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D và bà Văn Thị T (Cả hai đều đã chết); chồng: Dương Văn T1, sinh năm 1968; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 66/QĐ-XPHC ngày 08-4-2024 bị Công an huyện L xử phạt: 7.500.000 đồng về hành vi: “Trồng cây cần xa”
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-01-2024 đến ngày 11-01-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có người liên quan là ông Dương Văn T1 nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4-2023, Hoàng Thị M đi điều trị bệnh Lupus ban đỏ tại Bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, M gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) ngồi bên cạnh đang chờ để khám bệnh. Quá trình nói chuyện trao đổi về bệnh tật thì người phụ nữ này nói bệnh của M thử nấu nước cần sa khô để uống thì sẽ đỡ và hẹn đợt khám bệnh tới sẽ cho M hạt giống cây cần sa về trồng thì M đồng ý. Sau đó, M xuống tái khám và gặp lại người phụ nữ trên tại Bênh viện Chợ R thì người phụ nữ đưa cho M 05 hạt giống cây cần sa. Khi về nhà, Mai một m mang 05 hạt giống cây cần sa trên ra trồng tại vườn cà phê phía sau nhà kho nằm trong khuôn viên đất ở của vợ chồng M. Mai một mình chăm sóc số cây cần sa trên và không nói cho chồng là ông Dương Văn T1 được biết. Một thời gian sau, khi 05 cây cần sa phát triển cao khoảng 01m thì ông T1 phát hiện và hỏi M là cây gì thì M nói là cây cần sa do M trồng nhằm mục đích phơi khô, đun lên uống cho đỡ bệnh. Ông T1 không đồng ý cho M tiếp tục trồng và chăm sóc số cây cần sa trên nhưng M không nghe vẫn tiếp tục tự chăm sóc số cây cần sa trên. Khi cây cần sa cao khoảng 1,5m có hoa và hạt thì M thu hoạch lấy cành, lá, hạt đem phơi khô trong nhà kho, còn thân cây thì M mang đi đốt. Sau khi lá, cành phơi khô, M bỏ vào trong 01 bao nylon và 01 túi nylon (loại túi zip) để sử dụng dần cho bản thân bằng hình thức nấu với nước để uống đồng thời để phun nước tưới nuôi tằm.
Đối với các hạt cần sa thu được, M tiếp tục gieo trồng trong vườn cà phê ở phía sau nhà kho thuộc khuôn viên đất ở nhà mình. Sau một thời gian, các hạt giống mọc lên được tổng cộng 48 cây cần sa. M tiếp tục chăm sóc và chưa thu hoạch số cần trên do đang còn nhỏ (chiều cao các cây từ 0,3m đến 1m). Đến ngày 03/01/2024, Cơ quan Công an kiểm tra thì phát hiện M cất giấu cành, lá, hoa cây cần sa khô trong kho và 48 cây cần sa tươi trồng tại vườn phía sau nhà kho nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật trên. Tại Cơ quan Công an M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. (BL:54-67)
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (Một) bao nylon và 01 (Một) túi nylon bên trong chứa cành, lá, hoa cây thực vật khô, nghi là cần sa (M1), 48 (Bốn mươi tám) cây thực vật tươi, nghi là cần sa (M2). (BL: 30-32).
Tại bản Kết luận giám định số 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Mẫu cành, lá, hoa thực vật khô (M1) được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 3,24kg (Ba phẩy hai bốn kilôgam), là Cần sa. Mẫu bốn mươi tám cây thực vật tươi (M2) được niêm phong gửi giám định là ma tuý, là Cần sa.
3
Cần sa là chất Ma túy nằm trong Danh mục ID, STT: 01, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (BL: 45-46).
Tại Cáo trạng số: 92/CT-VKS ngày 07-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Hoàng Thị M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 88/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã:
Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị M 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-01-2024 đến 11-01-2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17-6-2024 bị cáo Hoàng Thị M kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị M giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì thêm đối với hành vi, hoạt động tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm; bị cáo khai và thừa nhận diễn biến hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác nên đủ cơ sở kết luận:
Ngày 03-01-2024, tại khu vực nhà kho của bị cáo tại thôn N, xã Đ, huyện L bị cáo có hành vi cất giữ 3,24kg (Ba phẩy hai bốn kilôgam) cành, lá, hoa thực vật
4
khô nghi là Cần sa nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Mẫu cành, lá, hoa thực vật khô (M1) được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 3,24kg (ba phẩy hai bốn kilôgam), là Cần sa. Mẫu bốn mươi tám cây thực vật tươi (M2) được niêm phong gửi giám định là ma tuý, là Cần sa.
Cần sa là chất Ma túy nằm trong Danh mục ID, STT: 01, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ..
Xét bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ, sử dụng Cần xa vào bất cứ mục đích gì không theo chỉ định, cho phép của cơ quan chức năng là hành vi trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cất giữ khối lượng 3,24kg (Ba phẩy hai bốn kilôgam) Cần sa theo bị cáo dùng để chữa bệnh, nên cấp sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng tội danh, có căn cứ.
- Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm là nghiêm trọng. Cấp sơ thẩm xác định quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là phụ nữ lại đang bị bệnh Lupus ban đỏ, tăng huyết áp phải thường xuyên đi chữa trị tại bệnh viện nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đồng thời tuyên phạt bị cáo mức án 15 (Mười lăm) tháng tù là phù hợp, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy rằng: đối với tình tiết giảm nhẹ đang bị bệnh Lupus ban đỏ, tăng huyết áp phải thường xuyên đi chữa trị tại bệnh viện đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng. Riêng tình tiết giảm nhẹ Bằng tổ quốc ghi công của Liệt sỹ Văn Khắc N có quan hệ là cậu của bị cáo là tình tiết mới, cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo do bị cáo chưa xuất trình, do đó cấp phúc thẩm cần xem đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến khách thể Ma túy, ngoài ra bị cáo còn đang thực hiện hành vi trồng 48 cây Cần sa chưa cho thu hoạch. Do đó, việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng sẽ tạo tiền lệ xấu, ảnh hưởng đến dư luận và không nghiêm đối với công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này tại địa phương, đặc biệt trên địa bàn huyện L, nơi bị cáo phạm tội và sinh sống đang là một trong những điểm nóng xảy ra các tội phạm có liên quan đến Ma túy.
5
Từ phân tích trên, chỉ có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu tra tại phiên tòa phúc thẩm; không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị cho hưởng án treo.
- Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị M, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Hoàng Thị M.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị M 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-01-2024 đến 11-01-2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Thị M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
6
7
Bản án số 128/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 128/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo; sửa bản án sơ thẩm giảm một phần mức hình phạt
