|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2024 V/v: Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thanh M
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Song H
- Bà Ngô Thị Thúy H
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Q – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2024/QĐST-HPT ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy M, sinh năm 1985
Địa chỉ: G T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 23-4-2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T sau thời gian tìm hiểu đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Long An ngày 08-7-2013. Thời gian chung sống với nhau có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến dẫn đến gây gổ với nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và đã sống ly thân nhau. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Duy M.
Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 23-8-2024, bị đơn ông Nguyễn Duy M trình bày:
Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T sau thời gian tìm hiểu đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Long An ngày 08-7-2013. Thời gian chung sống với nhau có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Thời gian ban đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian về sau ít hạnh phúc hơn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến và mâu thuẫn trong thời gian dài, dẫn đến gây gổ, mất tình cảm với nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng khó hàn gắn nên bà T yêu cầu ly hôn thì ông M đồng ý.
Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Ông M nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 cho bà T và không cấp dưỡng nuôi con theo ý bà T.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông M và bà T phát sinh mâu thuẫn, bà T xác định không còn tình cảm với ông M và ông M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T; Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Cháu T1 đã đủ tuổi thể hiện nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu có nguyện vọng ở với bà T. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và ông M đồng ý, vì vậy để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc con tốt nhất thì việc giao cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp; Về tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông M không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Lê Thị T có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Nguyễn Duy M, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của ông M và bà T không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ quy định pháp luật Tòa tiến hành giải quyết vắng mặt ông M và bà T.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xét ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Long An ngày 08-7-2013, như vậy hôn nhân giữa ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T là hợp pháp.
Trong thời gian M và bà T chung sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo ông M và bà T là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, không còn thương yêu nhau và cũng đã ly thân được một thời gian. Hai bên cũng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả.
Qúa trình giải quyết vụ án, do ông M vắng mặt tại các buổi làm việc nên chưa thể hiện thiện chí, không tranh thủ sự tác động, động viên, hòa giải của pháp luật để hàn gắn hôn nhân giữa bà T và ông M. Tại bản tự khai ngày 23-8-2024, ông M có ý kiến đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T vì xác định vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc.
Do bà T cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông M và ông M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T nên khả năng đoàn tụ là rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Cháu T1 đã đủ tuổi theo quy định pháp luật được nêu quan điểm ý kiến về việc có nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu có nguyện vọng ở với bà T. Hiện nay bà T cũng có công việc ổn định, có thu nhập, có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và ông M đồng ý để bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1. Vì vậy, để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc cháu T1 được tốt nhất thì việc giao cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Ông M và bà T không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T ly hôn.
- Về con chung: Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Giao cháu Nguyễn Minh T1 cho bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Duy M có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của các con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005854 ngày 15-5-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà T đã nộp xong án phí
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh M |
Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về ly hôn
- Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T. Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T ly hôn. Ông Nguyễn Duy M và bà Lê Thị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04-3-2013. Giao cháu Nguyễn Minh T1 cho bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
