Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 9 - 2024

“Về việc tranh chấp hôn nhân và

gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Nguyệt Thu

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXX-ST ngày 30/8/2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Thế B, sinh năm 1995

HKTT: Thôn T, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Đài Loan.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994

HKTT: Thôn T, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung :

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Thế B và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 05/12/2017, tại Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, việc kết hôn tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
  2. Anh Hồ Thế B trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị T sang Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động để xây dựng kinh tế gia đình. Trong quá trình chị T sinh sống và làm việc tại Đài Loan, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Mặt khác, do khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình, khiến cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng bế tắc, không có cách nào giải quyết. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng và con cái. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh B làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T để ổn định cuộc sống.

    Chị Nguyễn Thị T trình bày tại bản tự khai ngày 19/7/2024 có chứng thực của văn phòng K tại Đ: Theo chị T vợ chồng mâu thuẫn là do anh B đã có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng ly thân đã 04 năm, nay chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh B.

  3. Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Hồ Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2018. Anh Hồ Thế B, chị Nguyễn Thị T thỏa thuận, sau khi ly hôn giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tiền cấp dưỡng nuôi con trường hợp chị T có yêu cầu, anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tại bản tự khai ngày 19/7/2024 chị T không có nội dung về cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hồ Thế B, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 81, 107, 110, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hồ Thế B và chị Nguyễn Thị T; Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của anh B, chị T giao con chung Hồ Quỳnh A sinh ngày 01/02/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành. Buộc anh Hồ Thế B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 16/9/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hồ Thế B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét; Về án phí: Ghi nhận việc anh Hồ Thế B tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm, buộc anh bảo phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Anh Hồ Thế B, chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Theo công văn số 686/PA08-Đ1 ngày 18/7/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của chị Nguyễn Thị T, chị T đã xuất cảnh ngày 04/3/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Theo thông tin người nhà chị T cho biết hiện tại chị T đang lao động tại Đài Loan. Tại thời điểm thụ lý vụ án, Chị T đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Hồ Thế B đã đi sang Đài Loan Lao động và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai bản tự khai ngày 19/7/2024 của chị Nguyễn Thị T, có chứng thực của văn phòng K tại Đ, chị T đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T, anh B theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về nội dung:
    1. Về Quan hệ hôn nhân:
    2. Anh Hồ Thế B và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 05/12/2017, tại Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh B, chị T đều thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn, sống ly thân nhau 4 năm nay, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và cùng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình cảm giữa anh B và chị T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh B, chị T.

    3. Về con chung:
    4. Vợ chồng có 1 con chung tên Hồ Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2018. Anh Hồ Thế B, chị Nguyễn Thị T thỏa thuận, sau khi ly hôn giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Đặng Thị H, mẹ đẻ chị T, trú tại Thôn Í, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh có đơn tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Quỳnh A thay chị T trong thời gian chị T chưa về Việt Nam, hiện nay cháu Hồ Quỳnh A đang do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, việc thỏa thuận của đương sự là phù hợp quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền lợi của con chung nên được chấp nhận. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận của anh B, chị T, giao con chung Hồ Quỳnh A cho Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Anh Hồ Thế B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tiền cấp dưỡng nuôi theo anh B trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, trường hợp chị T có yêu cầu, anh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tại bản tự khai bản tự khai ngày 19/7/2024 của chị T, không có nội dung về cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn trình bày ngày 16/9/2024 của bà Đặng Thị H có nội dung do chị T không hiểu biết nên không ghi yêu cầu cấp dưỡng trong bản tự khai đã gửi cho Tòa án. Hiện nay, chị T đang ở Đài Loan nên không thể bổ sung nội dung này bằng văn bản cho Tòa án, chị T yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ. Điều 82 luật hôn nhân và gia đình quy định: “ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, để đảm bảo quyền, lợi của cháo Hồ Quỳnh A và chị Nguyễn Thị T. Căn cứ quy định tại Điều 81, 82,83, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, buộc anh Hồ Thế B phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.

    5. Về tài sản chung, nợ chung:
    6. Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    7. Về án phí:
    8. Chấp nhận sự tự nguyện chịu 150.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm của anh Hồ Thế B. Buộc anh Hồ Thế B phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 107,110, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật Tố tụng dân; Điều 7, Điều 10, khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hồ Thế B và chị Nguyễn Thị T

  3. Về con chung:
  4. Ghi nhận sự thỏa thuận của anh B, chị T, giao con chung Hồ Quỳnh A, sinh ngày 01/02/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Buộc anh Hồ Thế B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 16/9/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hồ Thế B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  5. Về án phí:
  6. Anh Hồ Thế B tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, buộc anh Hồ Thế B phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000011 ngày 09/7/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh, anh B còn phải nộp 150.000 đồng.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Nguyên đơn anh Hồ Thế B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Hồ Thế B và chị Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger