TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/DS - ST ngày 27/9/2024 V/v: “Đòi tài sản" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Bà Nguyễn Thị Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 24/2023/TLST-DS ngày 06/3/2023, về việc: Đòi tài sản; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-DS ngày 25/10/2023, Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 04/2024 ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Chí H, sinh năm 1978; HKTT và nơi ở: Số A đường X, quận C, thành phố Hà Nội; đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thụy C, sinh năm: 1984; trú tại: Tổ D, Phường P, quận N, thành phố Hà Nội - Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Minh T – Luật sư thuộc Văn phòng L – Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: P, Tòa T, A đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội - Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968; HKTT và nơi ở: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền cho ông H1: Bà Phạm Huyền T1, sinh năm 1998; HKTT: Thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang – Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lương Thành Đ, bà Nguyễn Thanh H2 - Luật sư thuộc Công ty L1; Địa chỉ: P, tòa nhà H, khu đô thị L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội - Có mặt.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Ông Hoàng Hưng N, sinh năm 1973; HKTT: Tòa T8, căn 6, tầng 10 TimesCity – Số 458 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
3.2/ Ông Nguyễn Tài Q, sinh năm 1977; HKTT: Dãy 3, tổ D, đường T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
3.3/ Bà Đậu Thị B, sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội - Có mặt.
3.4/ Cụ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1927; Chị Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2002; chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 2004 – Vắng mặt
3.5/ Cháu Nguyễn Trung H4, sinh năm 2013; người đại diện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Trung H4: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Đậu Thị B (bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội - Có mặt.
Người làm chứng: Ông Đào Đức T3, sinh năm 1979; cư trú tại: Số B ngách E, ngõ B, phường M, quận C, thành phố Hà Nội – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/11/2022 của nguyên đơn, quá trình tố tụng thu thập tài liệu, chứng cứ và trình bầy của nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền, luật sư bảo vệ cho nguyên đơn tại phiên tòa được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu về chỗ ở nên tôi (Đỗ Chí H) đã nhờ cậu em ngoài xã hội tên là T3 tìm mua hộ nhà đất; đến khoảng cuối tháng 3/2022 T3 nói với tôi, bạn của T3 là anh H5, bạn anh H5 là anh T4, anh T4 chơi với anh Q là chủ mảnh đất ở khu vực huyện H đang cần bán; tôi bảo T3, H5 nói anh T4 hẹn anh Q là chủ nhà để chúng tôi đến xem nhà đất. Hôm chúng tôi đến thì anh T4 gọi điện cho anh Q, anh Q nói không có nhà, mọi người cứ đến xem, nếu ưng thì hẹn làm việc sau. Khi đến chúng tôi không thấy có người ở nhưng thấy có quần áo phơi, tôi nghĩ nhà anh này đi vắng nên chúng tôi chỉ đứng ngoài cổng xem nhà đất, chưa có quyết định mua. Sau khi đi xem một vài lần tôi quyết định mua và bảo T3 nói với anh T4 hẹn anh Q mang Giấy tờ cho xem rồi chúng tôi thỏa thuận giá cả. Tuy nhiên, anh T4 là người quen của anh Nguyễn Tài Q nói, Quyền hay đi vắng (Tôi nghĩ anh T4 không muốn cho tôi gặp trực tiếp chủ đất) nên tôi biết ý nhờ T3 nói anh T4 thỏa thuận giá cả và xem hộ giấy tờ nhà đất có chính chủ không.
Sau khi được anh T4 thông báo giá bán của chủ nhà là 3,5 tỷ thì T3 có gọi điện cho tôi thông báo lại, tôi bảo T3 anh được mẹ anh cho 3 tỷ, mặc cả xuống 2,5 tỷ còn 500.000.000đồng để cảm ơn mấy anh em đã giới thiệu giúp, nếu hơn thì anh không đủ tiền, tìm chỗ khác vậy. T3 trao đổi lại với T4 như tôi nói, T4 gọi lại cho Q thông báo giá và ý định của người mua, Q đồng ý và hẹn ngày gặp tôi (H) để chốt giá, đặt cọc và làm thủ tục chuyển nhượng.
Sau khi anh T4 xem giấy tờ và thống nhất giá cả, T3 báo lại với tôi chuẩn bị 500.000.000 đồng và hẹn ngày 26/04/2022 đến tại L, khu đô thị M, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội để thỏa thuận mua bán, chuyển nhượng thửa đất số 296B, tờ bản đồ số 3B, có diện tích 148.8m² tại Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Buổi thỏa thuận chúng tôi thống nhất giá 3 tỷ, trong đó bồi dưỡng cho mấy anh em môi giới là 500.000.000 đồng. anh Q nói với tôi chuyển 500.000.000 đồng coi như đặt cọc; Q sẽ làm thủ tục giấy tờ sang tên tôi, khi nào làm xong thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất thì sẽ chuyển nốt, sau khi thỏa thuận xong chúng tôi hẹn nhau ngày 28/04/2022 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với ông Nguyễn Tài Q để mua bán thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B, diện tích 148.8m²; tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập hợp đồng và có Công chứng tại Văn phòng C1; địa chỉ: LK 5 - B - Khu Đô thị M, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng xong, tôi (H) đã được Q và mọi người đưa giấy tờ thủ tục xin cấp GCN bảo tôi ký. Ngày 26/5/2022 Văn phòng Đ1 - Chi nhánh huyện H đã sang tên quyền sử dụng nhà đất từ anh Q sang tên tôi là Đỗ Chí H.
Việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất giữa tôi (H) và anh Nguyễn Tài Q thông qua trung gian, mua bán, chuyển nhượng được bàn bạc công khai và hoàn toàn tự nguyện, không bên nào ép buộc bên nào, Tổng số tiền mua bán nhà đất là 3 tỷ, trong đó có 500 triệu đồng là tiền chi cho môi giới, tôi (H) đã thanh toán đầy đủ tiền cho anh Q và tiền môi giới, đã làm thủ tục sang tên theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Quyền, tôi (Hướng) có bảo Q đưa tôi (Hướng) xuống bàn giao nhà đất, tại buổi bàn giao nhà đất có T3, T4 đi cùng chứng kiến. Khi đến nhà, anh Q nói nhà đất đây, tôi (H) bảo Q mở cửa nhà để vào xem thì Q bảo hiện đang cho người quen ở nhờ họ đi vắng nên mở cửa vào, mất mát gì thì rách việc. Quyền nói, nhà đất đây, hôm nay chính thức tôi (Quyền) bàn giao nhà đất cho tôi (Hướng). anh Q nói “ông an tâm”, nếu cần ở ngay thì Q sẽ bảo họ chuyển đi ngay để H dọn xuống. Vì tại thời điểm này tôi (H) đang ở trên Yên Bái chưa có nhu cầu ở ngay; mặt khác giấy tờ tôi (H) đã hoàn thiện thủ tục sang tên và tôi đã được nhận giấy tờ nên tôi (H) yên tâm. Sau khi mua xong tôi lên Yên Bái bàn bạc với vợ để chuẩn bị về ở. Ít ngày sau tôi (H) rủ T3, T4 cùng về nhà tôi mua xem Quyền đã bảo người ở nhờ dọn đi chưa để tôi và gia đình chuẩn bị dọn về. Tôi (H) tới nơi thì cũng không có ai ở nhà. Tôi hỏi thông tin xung quanh thì được biết 2 vợ chồng anh H1 ở nhờ nhà anh Q đang bán quán nước gần khu cổng chào huyện H. Tôi tìm đến nói chuyện và yêu cầu ông H1 trả lại nhà đất cho tôi (Hướng) thì ông H1 không đồng ý. Ông H1 nêu ra nhiều lý do khác nhau nên tôi đã khởi kiện ra Tòa án về việc “Đòi tài sản” yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức giải quyết buộc ông H1 trả lại nhà đất cho tôi.
Tại phiên toà, ông H, người đại diện theo uỷ quyền và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H cùng có quan điểm: Ông H mua nhà bằng nguồn tiền của mẹ cho; ông H không quen biết và vay mượn gì với ông Q, việc ông H mua bán nhà đất được thông qua môi giới, mua bán, chuyển nhượng giữa các bên là tự nguyện, không bên nào ép buộc bên nào, giá cả mua bán được thỏa thuận, ông H đã thanh toán đầy đủ và làm thủ tục sang tên và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất theo đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định việc mua bán nhà đất thửa đất số 296B, tờ bản đồ số 3B, có diện tích 148.8m² tại Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội là mua bán ngay tình. Tài sản là nhà đất mà hiện nay ông H1 và gia đình đang ở là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đỗ Chí H; buộc ông Nguyễn Văn H1 và những người đang sinh sống trên thửa đất của ông H phải dọn đi nơi khác, bàn giao lại toàn bộ nhà đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Chí H6.
* Quá trình tố tụng thu thập tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn H1, chị B, đại diện theo uỷ quyền, Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn, cho người có quyền lợi nghĩa vụ, liên về phía bị đơn thống nhất trình bày:
Tôi cùng gia đình sinh sống ổn định trên thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Ngày 07/12/2011, tôi được UBND huyện H cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên.
Đầu năm 2013, tôi có quen biết và vay anh Hoàng Hưng N một khoản tiền để làm ăn. Do vậy, ngày 26/8/2013, tôi và vợ là Đậu Thị B có cùng anh N lập hợp đồng thỏa thuận về việc chuyển nhượng tài sản có thời hạn. Theo thỏa thuận này, gia đình tôi vay anh N số tiền 300 triệu đồng, thời hạn vay là 24 đến 36 tháng, lãi suất theo lãi của Ngân hàng, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, trong hợp đồng, anh N có cam kết chỉ dùng tài sản thế chấp ngân hàng (nếu có) và không được chuyển nhượng đất cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
Cùng ngày 26/8/2013, anh N có bảo gia đình tôi ra Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo khoản vay. Do tin tưởng anh N và thiếu hiểu biết nên tôi và vợ tôi đã ký vào hợp đồng.
Hợp đồng chuyển nhượng giữa tôi và anh N đối với thửa đất là hợp đồng giả cách, nhằm đảm bảo cho việc tôi vay anh N số tiền 300 triệu đồng, không phải là chuyển nhượng thật. Các bên không tiến hành bàn giao đất, gia đình tôi vẫn quản lý, sử dụng đất ổn định và không có ai đến tranh chấp. Giá trị thửa đất tại thời điểm đó là khoảng 1,5 tỷ đồng. Tôi trả lãi khoản vay 300 triệu đồng cho anh N trong thời hạn khoảng 3 năm, sau đó tôi không trả được do anh N bỏ trốn đi đâu tôi không biết. Hiện nay tôi không có tài liệu về việc trả lãi cho anh N.
Sau này, tôi được biết thửa đất của gia đình tôi đã chuyển nhượng cho nhiều người gồm: Hoàng Hưng N, anh Nguyễn Tài Q, chị Lê Minh T5, bà Nguyễn Thị Vân A và anh Đỗ Chí H.
Năm 2021, tôi H1 đã có đơn đề nghị VP đăng ký đất đai H8 – Chi nhánh H ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu tôi phải trả lại thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, tôi không đồng ý, vì tôi không có bất kỳ giao dịch mua bán chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Hoàng Hưng N, anh Nguyễn Tài Q và anh Đỗ Chí H.
Các giao dịch chuyển nhượng thửa đất của gia đình tôi hoàn toàn giả mạo, gây ảnh hưởng quyền lợi của gia đình tôi. UBND huyện H cấp GCNQSD đất cho anh Hoàng Hưng N, anh Nguyễn Tài Q và anh Đỗ Chí H là sai quy định, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của tôi.
Tại phiên toà ông H1, những người liên quan, người đại diện theo uỷ quyền, luật sư bảo vệ thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Bản chất giữa ông H1 với ông N là quan hệ vay tiền. Khi ông H nhận chuyển nhượng đất thì gia đình ông H1 đang treo biển nhà đất đang có tranh chấp. Trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ thể hiện chuyển nhượng đất, không thể hiện việc mua bán tài sản trên đất.
Ông H không phải là bên thứ ba ngay tình, thể hiện ở giá trị chuyển nhượng ghi trong các hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn H1 với ông Hoàng Hưng N, giữa ông Nguyễn Tài Q với ông Đỗ Chí H là không phù hợp với giá trị thực tế. Mặt khác, gia đình ông H1 vẫn sử dụng nhà đất liên tục từ xưa đến nay. Gia đình ông H1 đã có đơn ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất gửi cho Chi nhánh đăng ký đất đai Hà Nội – Chi nhánh H, Phòng TNMT huyện Hoài Đức và UBND xã Đ. Do vậy, ông H1 và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H1 đề nghị:
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2138/2013/HĐCN ngày 26/8/2013 tại Văn phòng C2 giữa ông Nguyễn Văn H1 và ông Hoàng Hưng N.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0321/2014/HĐCN ngày 08/4/2013 tại Văn phòng C3 giữa ông Hoàng Hưng N và ông Nguyễn Tài Q.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0569/2014/HĐCN ngày 24/5/2013 tại Văn phòng C3 giữa ông Hoàng Hưng N và bà Lê Minh T5.
- Tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận xác định tài sản riêng số 0257/2016/VBXĐTSR lập ngày 01/3/2016 tại Văn phòng phòng C4 giữa ông Nguyễn Tài Q và bà Nguyễn Thị Vân A.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tài Q và ông Đỗ Chí H.
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hủy nội dung đăng ký biến động sang tên cho ông Hoàng Hưng N đối với thửa đất trên.
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hủy nội dung đăng ký biến động sang tên cho ông Nguyễn Tài Q đối với thửa đất trên.
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hủy nội dung đăng ký biến động sang tên cho ông Đỗ Chí H đối với thửa đất trên.
Đề nghị Toà án thụ lý yêu cầu phản tố của ông H1.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Chí H về việc buộc ông H1 và gia đình phải trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội.
Đại diện VKSND huyện Hoài Đức tham gia phiên toà có quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng và kiến nghị đường lối giải quyết:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, như: Điều tra, xác minh thu thập chứng cứ đúng theo các Điều 176, Điều 196 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tuy nhiên, vụ án vi phạm thời hạn xét xử là do vụ án có tính chất phức tạp, cần có thời gian thu thập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan hữu quan, các đương không hợp tác, không thực hiện quyền tố tụng của mình nên vụ án vi phạm là do khách quan.
Về Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng thành phần, Thẩm phán và thành viên Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo các Điều 11,12,14 và 15 Bộ luật Tố tụng Dân sự; thực hiện đúng về thủ tục bắt đầu phiên tòa cũng như thủ tục hỏi, công bố tài liệu, chứng cứ của những người vắng mặt tại phiên tòa; điều hành tranh tụng tại phiên tòa theo đúng quy định.
Toà án không thụ lý đơn phản tố của bị đơn là ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Về đường lối giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải giao nhà đất cho ông Đỗ Chí H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, tranh luận công khai tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của về tố tụng và đường lối giải quyết của VKS, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Văn H1, tài sản tranh chấp ở tại: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Ngày 30/11/2022, ông Đỗ Chí H có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý giải quyết vụ án “Đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật “Đòi tài sản”. Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 129, Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 và đoạn 6 phần nhận định của án lệ số 55/2022 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10 /2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; câu 1 phần II về dân sự của Công văn số 64/2019/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự, và tố tụng hành chính để giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Ông Hoàng Hưng N, sinh năm 1973; HKTT: Tòa T8, căn 6, tầng 10 TimesCity – số D M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Tài Q, sinh năm 1977; HKTT: Dãy 3, tổ D, đường T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, Toà án đã triệu tập, niêm yết hợp lệ cho ông N, ông Q thấy có căn cứ người cấp tống đạt không nhận được văn bản tố tụng, Toà án áp dụng Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và trên cổng thông tin điện tử của Toà án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án theo quy định.
Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1927; Chị Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2002; chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 2004 là những người sống trên đất đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua ông Nguyễn Văn H1, ông H1 ký nhận và cam kết giao tận tay cho những người trên, tuy nhiên những người này vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án theo quy định.
- Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn có đơn phản tố với rất nhiều nội dung. Tuy nhiên, đơn phản tố của bị đơn không có nghĩa vụ khấu trừ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn; mà đơn phản tố có nội dung cùng với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nghị quyết số 05/2012 ngày 3/12/2012, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự và câu 1 phần tố tụng dân sự của Giải đáp số 196/TANDTC ngày 03/10/2023, V/v thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu phản tố của bị đơn được coi là ý kiến trình bầy, không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy việc phản tố của bị đơn không có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất giữa anh Nguyễn Văn H1, bà Đậu Thị B và ông Hoàng Hưng N có thể là có dấu hiệu của Hợp đồng vô hiệu. Ông Nguyễn Văn H1 đã có đơn tố cáo ông Hoàng Hưng N đến Cơ quan cảnh sát điều tra quận H, thành phố Hà Nội từ ngày 27/05/2022. Tuy nhiên, đến nay cơ quan cảnh sát điều tra quận H chưa làm rõ Hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn H1 với ông Hoàng Hưng N, giữa ông N với ông Nguyễn Tài Q là có dấu hiệu hình sự hay không ?, chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Căn cứ Điều 30 Luật tố cáo có thời hạn là 06, đến nay thời hạn tin báo đã qua 24 tháng vẫn chưa có kết quả giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Giành quyền khởi kiện về dân sự, về hình sự, phần thiệt hại tài sản đối với hợp đồng nêu trên bằng vụ án khác khi các bên có đủ chứng cứ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
- Trong quá trình cấp GCN quyền sử dụng nhà đất cho ông H; ông Nguyễn Văn H1 đã có nhiều đơn ngăn chặn gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai– chi nhánh huyện H; gửi sở T6. Văn phòng Đ1 đã trả lời ông H1 việc cấp GCN quyền sử dụng đất là đúng quy định.
[2] Tóm tắt về nguồn gốc nhà đất: Do cần tiền để làm ăn, ngày 26/8/2013, vợ chồng ông Nguyễn Văn H1 bà Đậu Thị B vay của ông Hoàng Hưng N 300.000.000 đồng, để được vay số tiền này ông H1, bà B ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N và được công chứng số 2138/2013/CNQSDĐ ngày 26/08/2013 tại Văn phòng C2; trụ sở tại: A N Kon Tum, phường N, quận T Hà Nội. Cùng ngày, tại tầng 9 số A phố B, quận H, thành phố Hà Nội ông Hoàng Hưng N và vợ chồng ông H1, bà B ký Hợp đồng thỏa thuận với nội dung: Bên B nhất trí thế chấp tài sản bằng hình thức chuyển nhượng toàn bộ nhà đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI142027 do UBND huyện H cấp ngày 07/12/2011, có diện tích 148,8m² đất, tại thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội cho ông Hoàng Hưng N. Tuy nhiên, bên A chỉ được dùng tài sản thế chấp vào Ngân hàng mà không được chuyển nhượng, tặng cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào; thời hạn vay là 24 đến 36 tháng, lãi suất theo lãi của Ngân hàng.
Ngày 17/7/2014, ông Hoàng Hưng N, cùng vợ bà Lê Thị H7 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tài Q, được Công chứng tại văn phòng C3; có trụ sở: Số A ngõ D H, quận Đ, thành phố Hà Nội công chứng số 0858/2014/HĐCN. Ngày 09/11/2020, ông Nguyễn Tài Q được Sở tài nguyên và môi trường thành phố T6 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 37104, thửa đất số 296B, tờ bản đồ số 3B, tại thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, có diện tích 148,8m².
Ngày 28/04/2022, ông Nguyễn Tài Q ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Chí H, được Văn phòng C1; trụ sở tại: LK5-2, khu đô thị M, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội công chứng số 1294. Ngày 26/05/2022, ông Đỗ Chí H được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 – Chi nhánh H cấp GCN và đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B, diện tích 148.8m²; tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội.
Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà thấy diện tích nhà đất theo GCN quyền sử dụng đất thửa số 269B, tờ bản đồ 3B, có diện tích 148.8m², ông H7 khẳng định mảnh đất này từ xưa đến nay không cơi nới, không lấn chiếm của ai, không tranh chấp với các hộ liền kề. Tuy nhiên, khi tranh chấp Toà án đo lại thực tế có diện tích 156,7m², các bên không có ý kiến gì về phần tăng thêm này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
(Sau khi nhà đất được sang tên cho vợ chồng ông Hoàng Hưng N thì mảnh đất này được bán cho 05 người, trong đó có ông N, ông Q và ông H làm thủ tục và được cấp GCN)
[3] Xét nội dung vụ án và yêu cầu của Nguyên đơn:
Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Đậu Thị B cho ông Hoàng Hưng N được công chứng số 2138/2013/CNQSDĐ ngày 26/08/2013 tại Văn phòng C2; có trụ sở tại: A N Kon Tum, phường N, quận T Hà Nội có thể là bị vô hiệu. Tuy nhiên, nhà đất này đã được bán cho 05 người, trong đó ông Hoàng Hưng N và ông Nguyễn Tài Q đã làm thủ tục cấp GCN theo quy định của pháp luật.
Do có nhu cầu về nhà ở nên ông Đỗ Chí H đã thông qua môi giới tìm mua nhà hộ; sau khi xem nhà và thỏa thuận về giá cả mua bán. Ông Đỗ Chí H về xin tiền của mẹ để mua nhà đất của ông Nguyễn Tài Q thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B, diện tích 148.8m²; tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Khi ông H mua bán nhà không biết hoặc không thể biết những giao dịch trước đó bị vô hiệu. Mà ông H có căn cứ để tin rằng chủ thể giao dịch với mình là con người cụ thể, có đủ căn cứ pháp lý, như: Căn cước công dân, có đối tượng mua bán là nhà đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.
Như vậy, Hội đồng xét xử thấy: Ông Đỗ Chí H không quen biết ông Nguyễn Tài Q{1}; Nguồn tiền mua nhà đất là tiền của mẹ đẻ ông H cho, không phải là tiền vay, mượn với người bán{2}; Việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất của ông Đỗ Chí H được thông qua môi giới, các bên được tự nguyện trao đổi, mặc cả, không bên nào ép buộc bên nào; đã thanh toán cho người bán đầy đủ {3}; Sau khi mua bán xong được ông Nguyễn Tài Q bàn giao tài sản{4} Ông H đã làm thủ tục và được cấp GCN quyền sở hữu hợp pháp theo quy định{5};
Căn cứ Điều 133 Bộ Luật Dân sự 2015; căn cứ khoản 10 Điều 3; Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013; Căn cứ án lệ số 55/2022 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày ngày 07/09/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; căn cứ mục 1 Phần II về dân sự của Công văn số 64/TAND-PC ngày 03/4/2019 TAND Tối cao; Hội đồng xét xử thấy việc mua bán nhà đất của ông H là mua bán ngay tình nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đỗ Chí H được chấp nhận.
Buộc ông Nguyễn Văn H1 và những người đang sinh sống trên thửa đất của ông H phải dọn đi nơi khác, bàn giao lại toàn bộ nhà đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Đỗ Chí H.
[4] Xét yêu cầu của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn:
Nhà đất tại thửa đất số 269B, tờ bản đồ 3B tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội trước năm 2013 ông H1, bà B đứng tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất. Năm 2013, vợ chồng ông cần tiền nên đã ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Hoàng Hưng N, Hợp đồng được công chứng số 2138/2013/HĐCN ngày 26/8/2013 tại Văn phòng C2; ông N đã được cấp GCN quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông H1 và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H1 cho rằng, Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H1 và ông N đối với thửa đất đang tranh chấp là hợp đồng giả cách, để đảm bảo cho khoản vay 300 triệu đồng, mà vợ chồng ông H1 ký chuyển nhượng, nhưng không phải là chuyển nhượng thật. Giá trị thửa đất tại thời điểm 2013 khoảng 1,5 tỷ đồng. Ông H1 trả lãi khoản vay 300 triệu đồng cho anh N trong thời hạn khoảng 3 năm, sau đó không trả được do anh N bỏ trốn đi đâu không biết. Hiện nay ông H1 không có tài liệu chứng minh về việc trả lãi cho ông N.
Xét, việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thửa số 269B, tờ bản đồ 3B, diện tích 148.8m²; tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội đã được mua bán, chuyển nhượng qua nhiều người, trong đó có ông N, ông Q đã làm thủ tục được sang tên và được cấp GNC quyền sử dụng theo quy định của pháp luật. Ông H là người thứ 5 mua mảnh đất này và là người thứ ba được cấp GCN quyền sử dụng đất. Việc mua bán, chuyển nhượng không buộc bên mua là ông H phải biết hoặc không thể biết những giao dịch trước đó bị vô hiệu, mà ông H đã căn cứ vào con người cụ thể là ông Q, căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Tài Q để giao dịch lập Hợp đồng mua bán. Do vậy, cần xác định ông Đỗ Chí H là người mua bán ngay tình và hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông H có hiệu lực, ông H đã làm thủ tục cấp GCN quyền sở hữu, sử dụng theo luật định. Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn. Buộc bị đơn và những người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan phải giao trả nhà đất cho ông Đỗ Chí H.
Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
[5]. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Đậu Thị B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 72.000.000đồng + 2% x 500.000.000đồng = 82.000.000 đồng tiền án phí dân sự.
Trả lại cho ông Đỗ Chí H 37.000.000 đồng (Ba mươi bẩy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0016354 ngày 06/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Từ nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; áp dụng các Điều 158, 164, 166, 500, 502, 503 của Bộ luật Dân sự; áp dụng các Điều 166, 167, 188, điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng án lệ số 55/2022 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; câu 1 phần II về dân sự của Công văn số 64/2019/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự, và tố tụng hành chính để giải quyết vụ án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Đỗ Chí H đề ngày 30/11/2022 về việc “Đòi tài sản” đối với ông Nguyễn Văn H1 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn.
Buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 và những người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan sinh sống trên nhà đất đang có tranh chấp phải giao trả nhà đất thửa số 269B, tờ bản đồ 3B, diện tích 148.8m²; tại địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội cho ông Đỗ Chí H (Có sơ đồ kèm theo)
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Giành quyền khởi kiện về dân sự, hình sự, phần thiệt hại tài sản đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất giữa ông Nguyễn Văn H1 và ông Hoàng Hưng N khi các bên có đủ tài liệu, chứng cứ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Căn cứ Điều 128, khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
Trả lại cho ông Đỗ Chí H 37.000.000 đồng (Ba mươi bẩy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0016072 ngày 25/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Ông Nguyễn Văn H1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 82.000.000 đồng (Tám hai triệu đồng chẵn).
- Bác các yêu cầu khác của các đương sự;
- Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xét xử hoặc niêm yết bản án theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THA huyện Hoài Đức; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | Đỗ Văn Nghiêm |
Bản án số 128/2024/DS - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đòi tài sản
- Số bản án: 128/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đỗ Chí H đòi tài sản ông nguyễn văn H
