Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 127A/2024/HS-ST

Ngày: 12-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và ông Nguyễn Văn Lân.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Đức Chính, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 19/02/2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 37/2024/TB-TA ngày 01/3/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử số 58/2024/TB-TA ngày 29/3/2024 đối với bị cáo:

Lê Nguyễn Kiều T

(tên gọi khác: Bi); sinh ngày: 30/9/2001 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nơi ở hiện nay: Số D đường N, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1976; chồng, con: Không có; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình, học văn hóa đến lớp 12/12 thì ở nhà, phụ giúp gia đình tại phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Sau đó chuyển về cư trú tại số D N, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/10/2023 đến ngày 17/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 2004; địa chỉ: Số F đường C, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Lê Hoàng Nhật Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Số D đường D, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Long V, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • + Chị Phan Thị Xuân M, sinh năm 2000; địa chỉ: Số H đường T, khu phố C, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • + Anh Lê Bùi Hoàng H, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn D, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền để tiêu xài nên Lê Nguyễn Kiều T nảy sinh ý định thực hiện các thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt tài sản từ chị Trần Thị Thùy L, cụ thể:

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Thông qua mạng xã hội, vào ngày 21/5/2023, Lê Nguyễn Kiều T quen biết với anh Lê Bùi Hoàng H. Ban đầu, T nhắn tin giới thiệu với H rằng T là nhân viên hỗ trợ làm thẻ, mở thẻ cho các bạn sinh viên có nhu cầu. Sau khi H đồng ý, T hướng dẫn H tải App K và sử dụng thông tin cá nhân để đăng ký tài khoản. Tuy nhiên, tài khoản của H không được duyệt nên T đã nhờ H nếu có bạn bè cần mở tài khoản thì liên hệ với T.

Đến ngày 22/5/2023, H nhắn tin với T đã hướng dẫn một người bạn của H là Trần Thị Thùy L mở tài khoản thành công, T nhờ H yêu cầu L chụp hình ảnh hạn mức tài khoản Kredivo. Mục đích của việc này là để biết số tiền tối đa của khoản vay. Sau đó, T gửi cho H 02 mã đơn thanh toán tiền điện số PD0600T079033, PD0600T083798 và nhờ H gửi cho L để thanh toán trên mã Kredivo rồi chụp kết quả cho T. Hai mã đơn tiền điện trên T lấy từ một người tên K1 quen biết qua mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch). Tổng số tiền thanh toán của 02 hóa đơn điện trên là 1.726.587 đồng. Đối với khoản tiền này, K1 được hưởng 8% tương đương với 138.000 đồng, số tiền còn lại 1.588.000 đồng thì K1 chuyển cho T vào tài khoản V1 số [...] - LE NGUYEN KIEU TRANG. Số tiền này, T đã sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 26/6/2023, T sử dụng tài khoản Facebook "Nguyễn Kiều Trang" của mình nhắn tin cho L giới thiệu là người của Công ty và hẹn L ra gặp mặt để giải quyết khoản nợ của App K. Sau đó, yêu cầu L cung cấp số điện thoại để T liên lạc. Sau khi có số điện thoại, T đã sử dụng các tài khoản Zalo "Van Lam", "Hung Hoang" giả mạo nhân viên thu hồi nợ của Công ty K2 nhắn tin cho L với nội dung yêu cầu trả nợ khoản vay từ A1 nếu không sẽ gọi về người thân của L. Do L tin là thật nên đã đồng ý chuyển khoản cho T 02 lần trong ngày này. Cụ thể, vào khoảng 16 giờ 23 cùng ngày, L chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng, đến 17 giờ 42 phút thì L chuyển khoản 753.000 đồng vào tài khoản BIDV số E - PHAN THỊ XUAN MY do T mượn của chị Phan Thị Xuân M. Sau đó, T nhờ M chuyển lại số tiền trên cho mình. T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này.

Đến ngày 29/6/2023, L có nhắn tin hỏi T về vấn đề tại sao thanh toán tiền rồi nhưng trong ứng dụng K vẫn còn ghi nợ cho L thì T sử dụng tài khoản zalo "Van Lam", "Hung Hoang" để nhắn tin với Zalo của L tên là "Linh T2" nói rằng 02 lần chuyển khoản trước bị lỗi tài khoản nên chưa nhận được và chưa thanh toán số nợ của L trong ứng dụng được. T tiếp tục yêu cầu L chuyển khoản lại thì L nói đã hết tiền không đủ để chuyển tiền thanh toán. T nhắn tin rằng lần chuyển đã thành công nên L chỉ cần chuyển tiền ở Bill thứ 2 thì L đồng ý và chuyển khoản 765.000 đồng vào tài khoản V2 số 9934850500 - HOANG LONG VU do T mượn của Hoàng Long V. Sau đó, T nhờ Vũ chuyển lại số tiền trên cho mình, T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này.

Vào ngày 05/7/2023, T tạo mới và sử dụng tài khoản Zalo "Nguyen Minh T3" giả mạo là nhân viên App Money Vay nhắn tin yêu cầu L trả nợ số tiền 2.500.000 đồng. Lúc đầu, L không tin nhưng T vẫn yêu cầu L thanh toán tiền vay trễ 05 ngày nếu không L sẽ tiếp tục bị ghi nợ. L tin là thật và đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản VIB số 408704060138683 - LE HOANG NHAT QUYNH do T cung cấp, đây là tài khoản của chị Lê Hoàng Nhật Q, chủ cơ sở cầm đồ T đang cầm xe máy để vay nợ. Số tiền 2.000.000 đồng này chuyển vào tài khoản của chị Q để T trả nợ. Đồng thời, T vẫn dùng Facebook cá nhân của mình nhắn tin với L và nói với L chuyển cho T số tiền 200.000đ để T thương lượng phía ứng dụng vay nợ, giải quyết việc nợ giúp L nên L tin và đồng ý chuyển T số tiền 200.000 đồng vào tài khoản ZaloPay của T.

- Hành vi trộm cắp tài sản:

Vào chiều ngày 26/6/2023, Lê Nguyễn Kiều T và Trần Thị Thủy L1 hẹn gặp nhau ở quán C ở địa chỉ số H đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mục đích lúc này để T nói chuyện với L1 trong việc nợ A trước đó. Trong lúc ngồi ở quán cà phê nói chuyện, T mượn điện thoại của L1 để T thực hiện các thao tác trong việc xóa ghi nợ trên App Kredivo của L1 nên L1 đưa điện thoại cho T. Mượn được điện thoại của L1, T lén truy cập vào mục ví trả sau trên ứng dụng Momo của L1 và liên hệ với K1 để yêu cầu được thanh toán hóa đơn nên K1 chuyển cho T 02 hóa đơn tiền điện để thanh toán. Tổng số tiền 02 hóa đơn điện là 3.002.160 đồng, cụ thể:

  • - Lúc 19:14 ngày 26/6/2023: Thanh toán hóa đơn điện số PB14100007041 (Điện lực C1) của Ngô Minh T4, địa chỉ: I Ấp X, số tiền thanh toán 1.998.238 đồng.
  • - Lúc 19:35 ngày 26/6/2023: Thanh toán đơn hàng Tiki 828057120 số tiền 1.003.922 đồng.

Đối với khoản tiền này, K1 hưởng lợi 4% tương đương 120.000 đồng, số tiền 2.880.000 đồng còn lại K1 chuyển lại cho T vào tài khoản V2 số 9934850500 - H1. Sau đó, V chuyển khoản lại cho T toàn bộ vào tài khoản S số [...] - LE NGUYEN KIEU TRANG. Việc T lén lút truy cập vào ví Momo của L1 rồi thanh toán số tiền trên thì L1 không hề biết.

Sau khi sự việc xảy ra, chị Trần Thị Thùy L đã trình báo tại cơ quan Công an.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu ghi và 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu bạc.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Nguyễn Kiều T đã bồi thường số tiền 9.500.000 đồng cho chị Trần Thị Thùy L. Chị L không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSTPH ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Nguyễn Kiều T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Kiều T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Về hình phạt:
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Lê Nguyễn Kiều T từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Lê Nguyễn Kiều T từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
  • Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/10/2023 đến ngày 17/01/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu ghi và 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu bạc.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, đã có cơ sở để khẳng định:
  3. Vào các ngày 22/5/2023, 26/6/2023, 29/6/2023 và 05/7/2023, tại các địa điểm trên địa bàn thành phố H, Lê Nguyễn Kiều T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị Thùy L với tổng số tiền là 6.444.587đ. Vào ngày 26/6/2023 tại địa chỉ số H đường L, thành phố H, Lê Nguyễn Kiều T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị Thùy L với số tiền 3.002.160 đồng. Tổng cộng số tiền mà T đã chiếm đoạt của chị L là 9.446.747 đồng. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố Lê Nguyễn Kiều T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. [3] Bị cáo Lê Nguyễn Kiều T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tham lam, vụ lợi, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
  5. [4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với tội trộm cắp tài sản, bị cáo chỉ chiếm đoạt 3.002.160 đồng, bị cáo T được hưởng hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51, 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
  6. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phải xử phạt bị cáo bằng một hình phạt nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo phạm 02 tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt.

  7. [5] Đối với anh Hoàng Long V, chị Phan Thị Xuân M là người đã đồng ý cho Lê Nguyễn Kiều T mượn số tài khoản sau đó chuyển tiền lại cho T; anh Lê Bùi Hoàng H là người đã giới thiệu chị Trần Thị Thùy L tải ứng dụng App Kredivo và thanh toán 02 hóa đơn do T cung cấp; bà Lê Hoàng Nhật Q cho T biết số tài khoản của mình để nhận tiền từ T. Do anh V, chị M, anh H và bà Q không biết thủ đoạn của T nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
  8. Đối với đối tượng tên K1 là người cung cấp các mã hóa đơn thanh toán cho Lê Nguyễn Kiều T khi T có yêu cầu nhận thanh toán. Sau khi thanh toán xong, K1 đều chuyển khoản lại số tiền đầy đủ cho T theo thỏa thuận. Cơ quan điều tra cần tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh để xử lý theo quy định.

    Đối với số tiền 1.700.000 đồng do Lê Nguyễn Kiều T mượn của chị Trần Thị Thùy L để tiêu xài cá nhân và việc T nhờ chị L đứng tên để mua điện thoại trả góp thì chị L đều biết và đồng ý. T cũng đã trả đầy đủ số tiền đã mượn và số tiền trả góp điện thoại hàng tháng còn lại cho chị L. Đây là quan hệ dân sự giữa T và chị L, không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét.

  9. [6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu ghi và 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu bạc của bị cáo Lê Nguyễn Kiều T sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  10. [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Thùy L đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  11. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Kiều T (B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Kiều T 04 (bốn) tháng tù.

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Kiều T (B) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Kiều T 06 (sáu) tháng tù.

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/10/2023 đến ngày 17/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
  4. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu ghi và 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu bạc.

    Các vật chứng trên được xác định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Nguyễn Kiều T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết thee quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh TT Huế;
  • - VKSND tỉnh; VKSND TP Huế;
  • - CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu, Dán án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127A/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 127A/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Nguyễn Kiều Trang "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger