|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1276/2023/DS-PT Ngày: 29/12/2023 V/v tranh chấp đòi tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Dung
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Anh Minh
Bà Phạm Thị Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2023/DS – ST ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5256/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa:
· Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV D.
Địa chỉ: Số B đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Kim L. (Vắng mặt)
Địa chỉ: C đường A, khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 21/QĐ-DVCIQ1 lập ngày 22/02/2023).
· Bị đơn: Ông Trần Minh Q, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số A đường số D, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Huệ T, sinh năm 1958. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền số công chứng 005022 lập ngày 17/5/2021 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Tổng Công ty B1. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Võ Hoàng L1.
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1996.
Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 20/GUQ-TCT ngày 22/11/2021).
2. Công ty TNHH D.
Địa chỉ: Số A đường số D, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Bà Nguyễn Thị Huệ T, sinh năm 1958. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo giấy ủy quyền ngày 19/11/2021).
3. Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Thành phố D.
Địa chỉ: Số E Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Thành B, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Lầu A, Số E Công trường M, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật – ông Trần Văn T1).
4. Bà Nguyễn Kim V, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A đường số D, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Minh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2019, Đơn khởi kiện đề ngày 4/6/2020, Văn bản số 209/DVCI – QLN ngày 27/3/2023, Văn bản số 275/DVCI – QLN ngày 17/4/2023 nguyên đơn là Công ty TNHH MTV D có người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn T2 và người đại diện theo ủy quyền bà Ngô Thị Kim L trình bày:
Căn nhà số A (tầng trệt) Đ, phường B, Quận A (sau đây viết tắt là căn nhà) thuộc diện Nhà nước quản lý theo Quyết định số 637/QĐ-UB ngày 08/5/1978 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Tờ trình xác lập sở hữu nhà nước ngày 16/12/1993 của Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 07/11/1989, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 758/QĐ-UB/3 v/v Kiểm kê thu hồi và tạm giao căn nhà, theo đó căn nhà được tạm giao cho Liên hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Q2 (Nay là Tổng Công ty B1, sau đây viết tắt là Tổng Công ty) làm Cửa hàng phục vụ khách nước ngoài; Liên hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Q2 có trách nhiệm ký hợp đồng thuê nhà với Xí nghiệp Q3 (Nay là Công ty TNHH MTV D, sau đây viết tắt là Công ty D).
Quá trình thuê căn nhà, Tổng Công ty đã cho ông Trần Minh Q thuê lại mà không có sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà. Do đó, ngày 17/5/2004, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Văn bản số 2775/UB-TM về duyệt phương án xử lý nhà đất của Tổng Công ty theo Quyết định số 80/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Tổng Công ty B1 phải chấm dứt ngay hợp đồng cho thuê lại tại 04 địa chỉ nhà đất trong đó có căn nhà 103 trệt Đ và giao cho Công ty Q4 (nay là Công ty TNHH Một thành viên D) lập thủ tục thu hồi nhà và ký hợp đồng cho các đơn vị có nhu cầu sử dụng thuê trực tiếp theo qui định”.
Thực hiện chỉ đạo tại Công văn số 4577/UBND-CNN ngày 05/7/2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, ngày 29/06/2006, Công ty D đã có biên bản làm việc với Tổng Công ty đề nghị chấm dứt hợp đồng cho thuê lại căn nhà. Tại buổi làm việc, Tổng Công ty cho biết ngày 30/6/2006 đã có giấy mời ông Trần Minh Q làm việc để thanh lý hợp đồng thuê nhà lấy lại mặt bằng khai thác kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, Tổng Công ty không thực hiện được việc lấy lại căn nhà số A (tầng trệt) đường Đ, Quận A và ông Trần Minh Q vẫn tiếp tục sử dụng căn nhà trên.
Ngày 17/07/2008, Công ty D có Công văn số 79/TB-QLN gửi Tổng Công ty đề nghị chấm dứt hợp đồng thuê lại căn nhà 103 (tầng trệt) đường Đ đối với ông Trần Minh Q theo chỉ đạo tại Công văn số 4577/UBND-CNN ngày 05/7/2006 của Ủy ban nhân dân Thành phA.
Trong khi chưa thực hiện được việc lấy lại căn nhà số A (tầng trệt) Đ, Quận A thì ngày 15/6/2010, Tổng Công ty có văn bản số 218/TCT-HC đề nghị Thường trực A và Công ty D xem xét chấp thuận cho Tổng Công ty được chuyển tên bên thuê trong hợp đồng thuê căn nhà từ Tổng Công ty sang Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Thành phố D (sau đây viết tắt là Công ty D).
Ngày 25/6/2010, Công ty D có Báo cáo số 849/BC-QLN/CTCC trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A xem xét, có ý kiến chỉ đạo về việc đổi tên cho đơn vị thuê căn nhà.
Ngày 03/8/2010, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 2918/QĐ-UBND “về việc thu hồi và hủy bỏ quyết định số 758/QĐ-UB/3 ngày 07/11/1989 về việc kiểm kê thu hồi và tạm giao cho Liên hiệp Sản xuất kinh doanh nhập khẩu Q2 (nay là Tổng Công ty B1) sử dụng làm cửa hàng phục vụ khách nước ngoài”. Đồng thời Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định 2920/QĐ.UBND “về việc thu hồi căn nhà 103 (tầng trệt) Đ, phường B, Quận A và tạm giao cho Công ty Cổ phần Dịch vụ thương mại Thành phố D”.
Ngày 10/8/2010, Công ty D đã tiến hành lập biên bản triển khai hai Quyết định số 2918/QĐ.UBND và 2920/QĐ.UBND của Ủy ban nhân dân Quận A cho các cơ quan, đơn vị liên quan. Công ty D đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận căn nhà trên từ Tổng Công ty và bàn giao cho Công ty D. Tổng Công ty cam kết chịu trách nhiệm bàn giao nhà cho Công ty D.
Ngày 11/8/2010, Công ty D lập biên bản số 631/TL-HĐTN thanh lý hợp đồng thuê nhà số A (tầng trệt) Đ, Quận A với Tổng Công ty và lập hợp đồng thuê nhà số 630/CTCC-HĐTN giải quyết cho Công ty D. Tuy nhiên, Tổng Công t không thực hiện việc lấy lại căn nhà số A (tầng trệt) Đ, Quận A từ ông Trần Minh Q do đó không thực hiện nội dung cam kết bàn giao căn nhà trên cho Công ty Cổ phần D.
Ngày 14/6/2011, Công ty D đề nghị Tổng Công ty B1 phải thu hồi và bàn giao mặt bằng trống căn nhà trong thời gian 10 ngày. Tuy nhiên, phía đại diện Tổng Công tB1 cho biết đã làm việc với ông Trần Minh Q nhiều lần nhưng do hiện nay ông Q đang có văn bản xin được tiếp tục sử dụng mặt bằng trên với các cơ quan chức năng nên phía Tổng Công ty cũng gặp khó khăn trong việc thu hồi và bàn giao mặt bằng cho Công ty D. Về thời điểm bàn giao chính xác thì phía Tổng Công ty cũng không trả lời được. Ý kiến của Công ty D và ông Trần Minh Q là đề nghị được sử dụng mặt bằng trên.
Ngày 04/7/2011, Công ty D có Thông báo số 1071/DVCI-QLN thanh lý hợp đồng thuê nhà với Công ty D do Công ty D không sử dụng được căn nhà số A (tầng trệt) Đ, Quận A. Căn nhà bị ông Trần Minh Q chiếm giữ.
Ngày 28/11/2011, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Công văn số 5996/UBND-TM về phê duyệt phương án xử lý đối với căn nhà là thu hồi bán đấu giá nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 09/7/2012, Ủy ban nhân dân Quận A có Công văn số 1856/UBND-DVCI báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc xử lý căn nhà.
Ngày 17/7/2012, Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố H có Công văn số 5451/VP-TM giao Ban Chỉ đạo 09 (Sở T3) chủ trì, phối hợp Ủy ban nhân dân Quận A và Sở ngành, đơn vị liên quan rà soát hiện trạng, pháp lý, báo cáo đề xuất phương án sắp xếp xử lý, khai thác sử dụng hiệu quả theo đúng quy định, sớm trình Ủy ban nhân dân Thành phố.
Ban chỉ đạo 09 (Sở T3) đã đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố H chấp thuận phương án xử lý thu hồi căn nhà trên tại các Công văn số 12957/STC-BCĐ09-CS ngày 27/12/2012; Công văn số 1936/STC-BCĐ09-CS ngày 07/3/2013; Công văn số 5397/STC-BCĐ09-CS ngày 19/06/2013.
Ngày 02/5/2013, Ủy ban nhân dân Quận A có Công văn số 882/UBND-TCKH đề nghị ông Trần Minh Q bàn giao căn nhà trên cho Ủy ban nhân dân Quận A tiến hành các thủ tục bán đấu giá nhà theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phA.
Ngày 19/8/2013, Ủy ban nhân dân Quận A tiếp tục có Công văn số 1924/UBND-TCKH đề nghị ông Trần Minh Q sớm bàn giao căn nhà trên cho Q1 để tiến hành các thủ tục bán đấu giá.
Ngày 07/10/2013, Ủy ban nhân dân Quận A tiếp tục có Công văn số 2387/UBND-TCKH đề nghị ông Trần Minh Q bàn giao căn nhà trên cho Ủy ban nhân dân Quận A để tiến hành các thủ tục bán đấu giá.
Mặc dù đã nhiều lần tiếp xúc, trả lời bằng văn bản với chủ trương thu hồi bán đấu giá căn nhà cho ông Q rõ nhưng ông Q vẫn không hoàn trả và bàn giao mặt bằng cho Quận 1; do đó, ngày 22/9/2014, Ủy ban nhân dân Quận A đã có Công văn số 2206/UBND-TCKH kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phA tiến hành thủ tục hành chính thu hồi căn nhà trên.
Ngày 06/7/2015, Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phA có Công văn số 6197/VP-TM về nhà đất tại số A (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A đề nghị khẩn trương triển khai thực hiện phương án sắp xếp.
Năm 2016, Ủy ban nhân dân Quận A tiếp tục có các Công văn số 1343/UBND-DVCI và 2063/UBND-DVCI báo cáo UBND Thành phố ban hành Quyết định thu hồi hoặc ủy quyền cho A ban hành Quyết định hồi căn nhà trên.
Ngày 30/12/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Công văn số 7735/UBND-KT giao A ban hành Quyết định thu hồi căn nhà trên. Trường hợp, tổ chức, cá nhân không chấp hành bàn giao, giao A chủ trì, phối hợp các đơn vị thực hiện cưỡng chế thu hồi theo trình tự thủ tục hành chính theo quy định.
Ngày 21/02/2017, Ủy ban nhân dân Quận A có Quyết định số 158/QĐ-UBND thu hồi căn nhà số A (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A.
Ngày 10/3/2017, ông Q có đơn khiếu nại Quyết định số 158/QĐ-UBND ngày 21/02/2017 của Ủy ban nhân dân Quận A.
Ngày 19/6/2017, Ủy ban nhân dân Quận A có Quyết định số 1064/QĐ-UBND công nhận và giữ nguyên Quyết định 158/QĐ-UBND; không công nhận khiếu nại của ông Q.
Sau đó, ông Q tiếp tục có Đơn khiếu nại lần 2 khiếu nại Quyết định số 1064/QĐ-UBND ngày 19/06/2017 của Ủy ban nhân dân Quận A.
Ngày 11/7/2019, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Công văn số 2797/UBND-KT về giải quyết khiếu nại liên quan đến căn nhà số A (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A có nội dung: “Giao Ủy ban nhân Quận 1 thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 158/QĐ-UBND ngày 21/02/2017 của Ủy ban nhân dân Quận A về việc thu hồi căn nhà số A (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A và Quyết định giải quyết khiếu nại số 1064/QĐ-UBND ngày 19/06/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A.
2. Giao cho Công ty TNHH MTV D căn cứ khoản 2, Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 khởi kiện ông Trần Minh Q ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để thu hồi nhà, đất số 103 (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A; báo cáo kết quả thực hiện cho Ủy ban nhân dân Thành phA trong tháng 7/2019”.
Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phA tại Công văn nêu trên, Ủy ban nhân dân Quận A đã có Quyết định số 1451/QĐ-UBND ngày 31/7/2019 “về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 158/QĐ-UBND ngày 21/2/2017 của Ủy ban nhân dân Quận A về việc thu hồi căn nhà số A (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A” và Quyết định số 1452/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 “về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1064/QĐ-UBND ngày 19/6/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân QuậA”.
Nay Công ty D yêu cầu ông Trần Minh Q phải trả lại căn nhà 103 (tầng trệt) đường Đ, phường B, Quận A cho Công ty D và bồi thường số tiền thiệt hại được tính dựa trên số tiền thuê nhà phải thu hàng tháng và tiền thuê đất phải nộp từ giai đoạn từ tháng 07/2011 đến tháng 04/2023, cụ thể như sau:
- Từ tháng 07/2011 đến tháng 12/2011: Giá thuê là 49.728.858 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 89/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010 của Ủy ban nhân dân Thành phA và Công văn 7575/HD-LS ngày 07/8/2008 của L Sở). Tổng: (49.728.858 đồng x 6 tháng) x 10% thuế VAT= 328.210.463 đồng.
- Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012: Giá thuê là 49.728.858 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 82/2011/QĐ-UBND ngày 18/12/2011; và Công văn 7575/HD-LS ngày 07/8/2008 của L Sở). Tổng: (49.728.858 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 656.420.926 đồng.
- Từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013: Giá thuê là 49.728.858 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 61/2012/QĐ-UBND ngày 22/12/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phA và Công văn 7575/HD-LS ngày 07/8/2008 của L Sở). Tổng: (49.728.858 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 656.420.926 đồng.
- Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2014: Giá thuê là 49.728.858 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Q4 và Quyết định số 60/2013 ngày 26/12/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Công văn 7575/HD-LS ngày 07/8/2008 của L Sở). Tổng: (49.728.858 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 656.420.926 đồng.
- Từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015: Giá thuê là 66.242.071 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Hướng dẫn số 3100/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 15/05/2015 của L Sở). Tổng: (66.242.071 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 874.395.337 đồng.
- Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016: Giá thuê là 66.242.071 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và và Hướng dẫn số 3100/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 15/05/2015 của L Sở). Tổng: (66.242.071 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 874.395.337 đồng.
- Từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017: Giá thuê là 66.242.071 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Hướng dẫn số 3100/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 15/05/2015 của L Sở). Tổng: (66.242.071 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 874.395.337 đồng.
- Từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018: Giá thuê là 67.796.256 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Hướng dẫn số 3100/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 15/05/2015 của L Sở). Tổng: (67.796.256 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 894.910.579 đồng.
- Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019: Giá thuê là 74.012.995 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Hướng dẫn số 3100/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 15/05/2015 của L Sở). Tổng: (74.012.995 x 12 tháng) x 10% thuế VAT = 976.971.534 đồng.
- Từ tháng 01/2020 đến tháng 5/2020 (tính đến thời điểm khởi kiện): Giá thuê là 74.012.995 đồng/tháng (căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định số 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Hướng dẫn số 4114/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 25/05/2020 của L Sở). Tổng: (74.012.995 x 5 tháng) x 10% thuế VAT = 976.971.534 đồng.
- Từ tháng 06/2020 đến tháng 12/2020: Giá thuê là 74.012.995 đồng/tháng với diện tích đất là 102.79m²; diện tích sử dụng là 87.35m² (Căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố và Hướng dẫn số 4114/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 25/05/2020 của L Sở) Tổng: (74.012.995 đồng x 7 tháng ) x 10% thuế VAT = 976.971.534 đồng.
- Từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2021: Giá thuê là 74.012.995 đồng/tháng với diện tích đất là 102.79m²; diện tích sử dụng là 87.35m² (Căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố và Hướng dẫn số 4114/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 25/05/2020 của L Sở) Tổng: (74.012.995 đồng x 12 tháng ) x 10% thuế VAT = 976.971.534 đồng.
- Từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022: Giá thuê là 74.012.995 đồng/tháng với diện tích đất là 102.79m²; diện tích sử dụng là 87.35m² (Căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố và Hướng dẫn số 4114/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 25/05/2020 của L Sở) Tổng: (74.012.995 đồng x 12 tháng ) x 10% thuế VAT = 976.971.534 đồng.
- Từ tháng 01/2023 đến tháng 04/2023: Giá thuê là 89.554.843 đồng/tháng với diện tích đất là 102.79m²; diện tích sử dụng là 87.35m² (Căn cứ Quyết định số 3346/QĐ-UB ngày 01/10/1994 của UBND thành phố và Thông báo số 71/TB-QLN ngày 05/06/2009 của Công ty Quản lý nhà và Quyết định 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố và Hướng dẫn số 4114/HDLCQ-TNMT-STC-SXD-CT ngày 25/05/2020 của L Sở) Tổng: (89.554.843 đồng x 4 tháng ) x 10% thuế VAT = 394.041.309 đồng.
Thông báo số 82836/TB-CCT-TBA ngày 28/12/2018 của Chi cục thuế Q5 về việc thu tiền thuê đất còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước từ ngày 08/1/2010 đến ngày 30/6/2014 là: 126.073.920 đồng.
- Tổng cộng: 10.243.571.196 đồng.
Tại Bản khai đề ngày 22/1/2021, Bản tường trình bổ sung đề ngày 17/12/2021, bị đơn là ông Trần Minh Q có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Huệ T trình bày:
Từ năm 1993, bị đơn được Liên Hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Q2 (nay là Tổng Công ty B1) cho thuê mặt bằng là tầng trệt A Đ, Quận A để kinh doanh. Đến năm 2001, ông Q được Tổng Công ty tiếp tục ký hợp đồng cho thuê mặt bằng 103 Đ (Hợp đồng số 08/HĐKT ngày 05/11/2001), với giá cho thuê hàng tháng là 2.000 USD (theo phụ lục số 3 ký ngày 17/8/2009). Bị đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính trong việc thuê mặt bằng tại địa chỉ A Đ, phường B, Quận A với Tổng Công ty B1 đến ngày 31/8/2010 (hóa đơn số 004816).
Ngày 28 tháng 01 năm 2011 ông Q nhận được văn bản số 29/CV-DVTM ngày 28/01/2011 và văn bản số 31 ngày 29/01/2011 của Công ty D trong đó có nêu đã ký hợp đồng thuê nhà số A Đ, phường B, Quận A với Công ty D và yêu cầu ông Q thanh toán tiền thuê nhà, bàn giao căn nhà cho Công ty D. Vì chưa bao giờ ký hợp đồng thuê mặt bằng với Công ty D và cũng không được Tổng Công ty thông báo theo thỏa thuận tại Hợp đồng số 08/HĐKT ngày 05/11/2001, nên ông Q đề nghị Công ty D ký kết hợp đồng thuê mặt bằng tại địa chỉ A Đ, phường B, Quận A thì ông Q mới thanh toán tiền thuê. Từ đó đến nay Công ty D không thấy hồi âm.
Ngày 05/7/2006, Ủy ban nhân dân T4 đã có văn bản chỉ đạo số 4577/UBND-CNN về việc giải quyết mặt bằng số 103 Đ, phường B, Quận A TP, trong đó có nêu cụ thể : “Trường hợp Tổng Công ty B1 sử dụng đúng mục đích, đúng công năng (không cho thuê lại) được giải quyết cho thuê tiếp, trường hợp ngược lại đề nghị Công ty Q4 thu hồi và giải quyết cho đối tượng đang thuê được ký hợp đồng thuê trực tiếp với Công ty Q4.” Tuy nhiên các cơ quan, đơn vị quản lý căn nhà đã không thực hiện đúng chủ trương của Ủy ban nhân dân Thành phố. Việc bị đơn chưa được ký hợp đồng thuê là do lỗi của các quan, đơn vị quản lý mặt bằng không thực hiện đúng các chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Ngày 21/2/2017, ông Q nhận được Quyết định số 158/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Quận A về việc thu hồi căn nhà số A (trệt) Đ, phường B, Quận A. Sau khi ông Q khiếu nại, ngày 19/6/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 1064/QĐ UBND không chấp nhận khiếu nại của ông Q. Việc ban hành các quyết định nêu trên là không đúng bản chất hợp đồng giao dịch dân sự giữa ông Q với Tổng Công ty; không có cơ sở pháp lý; dùng biện pháp hành chính để can thiệp vào một giao dịch dân sự chưa được giải quyết dứt điểm về quyền và nghĩa vụ mà pháp luật dân sự giữa ông Q và Tổng Công ty. Vì vậy, ông Q đã gửi đơn khiếu nại và đang chờ Ủy ban nhân dân Thành phố giải quyết khiếu nại lần 2 về việc giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân Quận A. Bị đơn cũng khẳng định giữa ông Q và Công ty D không có giao dịch dân sự nào.
Về yêu cầu trả lại mặt bằng, ông Q cam kết trả lại mặt bằng theo đúng như biên bản hòa giải ngày 26/11/2021.
Về bồi thường thiệt hại, ông Q không có khả năng thanh toán vì những lý do sau:
- Bị đơn không chiếm dụng mặt bằng mà kinh doanh tại đây liên tục từ năm 1993, có hợp đồng thuê nhà, giấy phép kinh doanh, đóng đủ tiền điện, nước, thuế;
- Từ năm 2011 hoạt động kinh doanh của ông Q gặp khó khăn do chờ giải quyết khiếu nại và do một số cơ quan của Quận A gây khó dễ như cắt điện, nước, thông báo di dời khẩn cấp;
- Trong quá trình kinh doanh ông Q đã đầu tư sửa chữa để cửa hàng ngày càng đẹp, văn minh hơn.
Tại Bản tự khai số 161/TCT-PC đề ngày 25/5/2021, Bản tự khai số 387/TCT-PC đề ngày 22/11/2021, Bản tự khai số 21/TCT–PC ngày 25/01/2021, Đơn đề nghị về việc xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/2/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty B1 có người đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Tâm H – Tổng Giám đốc và người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Hoàng L1 và ông Nguyễn Văn N trình bày:
Căn nhà 103 Đ (tầng trệt), phường B, Quận A thuộc diện tài sản Nhà nước và được giao về cho Công ty D quản lý. Ngày 01/4/1998, Công ty D ký Hợp đồng số 005/QLN-HĐTN cho Tổng Công ty thuê lại căn nhà này với thời gian hai năm. Sau đó hai bên có nhiều lần gia hạn thời gian thuê.
Ngày 05/11/2001, Tổng Công ty B1 thuê mặt bằng số 08/HĐKT cho ông Trần Minh Q thuê lại căn nhà này, thời hạn thuê là ba năm tính từ ngày 03/11/2001. Ngày 11/09/2003, Tổng Công t và ông Q ký Phụ kiện hợp đồng 02 gia hạn thời gian thuê đến ngày 30/11/2007. Ngày 17/08/2009, Tổng Công t và ông Q ký Phụ lục số 03 gia hạn thời gian thuê đến hết ngày 31/12/2009. Sau ngày 31/12/2009, Tổng Công ty không gia hạn thêm thời gian thuê nhà cho ông Q.
Căn cứ khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng 08/HĐKT ký với ông Q, hợp đồng thuê mặt bằng sẽ chấm dứt trong trường hợp “1. Thời hạn thuê đã hết.” Đồng thời căn cứ khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hợp đồng thuê nhà ở chấm dứt trong các trường hợp sau đây: 1. Thời hạn thuê đã hết; nếu hợp đồng không xác định thời hạn thuê thì hợp đồng chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày bên cho thuê báo cho bên thuê biết về việc đòi nhà;”
Hợp đồng cho thuê mặt bằng 08/HĐKT và các Phụ lục có thời hạn thuê đến hết ngày 31/12/2009. Như vậy, kể từ ngày 01/01/2010, Hợp đồng thuê đã chấm dứt và ông Q không còn quyền sử dụng nhà 103 Đ (tầng trệt). Sau khi hợp đồng thuê mặt bằng với ông Q chấm dứt, đồng thời Tổng Công ty không được xem xét tiếp tục cho thuê căn nhà (theo Quyết định 2920/QĐ – UBND ngày 3/8/2010 của Ủy ban nhân dân Quận A) nên ngày 10/8/2010, Tổng Công ty đã bàn giao căn nhà cho Công ty D, việc bàn giao được lập thành văn bản. Ngày 11/8/2010, Tổng Công t và Công ty D tiến hành thanh lý hợp đồng thuê nhà số 231/QLN – HĐTN. Việc ông Q cố tình chiếm dụng căn nhà là gây thiệt hại cho Công ty D.
Về tiền ông Q đặt cọc thuê mặt bằng, theo Điều 4 của Hợp đồng cho thuê mặt bằng 08/HĐKT, khoản tiền này đã được trừ vào tiền thuê căn nhà.
Tổng Công ty đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục vắng mặt và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản khai nội dung trình bày đề ngày 24/11/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D có người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Kim V trình bày:
Công ty TNHH D thống nhất với các ý kiến trình bày của ông Trần Minh Q tại các bản tường trình ngày 22/01/2021, bản khai nội dung trình bày ngày 24/5/2021, bản khai nội dung trình bày ngày 23/11/2021 và không bổ sung, không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản tự khai đề ngày 17/12/2021 và tại Bản khai đề ngày 01/7/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Thành phố D có người đại diện theo pháp luật là ông Trần Văn T1, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành B trình bày:
Ngày 15/6/2010, Công ty D có ký kết Hợp đồng hợp tác số 66A/HĐHT – TCT với Tổng Công ty B1, theo đó Tổng Công ty B1 làm thủ tục để Công ty D đứng tên bên thuê căn nhà. Ngày 11/8/2010, Công ty D và Công ty D ký kết hợp đồng thuê nhà. Đến ngày 25/3/2014, Tổng Công ty và Công ty D có biên bản thanh lý Hợp đồng hợp tác số 66A/HĐHT – TCT. Việc khai thác, sử dụng căn nhà chấm dứt, hai bên không phát sinh ý kiến khác. Công ty D không có quyền lợi hay nghĩa vụ liên quan đến căn nhà cũng như không liên quan đến các bên tranh chấp. Do đó, Công ty D Thương mại đề nghị Tòa án đưa ra khỏi danh sách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại Đơn trình bày đề ngày 25/11/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim V trình bày:
Bà là vợ của ông Trần Minh Q. Toàn bộ chi phí đầu tư, sửa chữa căn là tài sản riêng của ông Q, không liên quan đến bà. Do bận công việc, không liên quan đến tranh chấp, cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì nên bà đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn Công ty D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với đề nghị của Bị đơn về xin giảm tiền bồi thường.
Bị đơn Trần Minh Q tự chịu chi phí sửa chữa căn nhà, phí xem xét, thẩm định tại chỗ, phí trưng cầu thẩm định giá trị sửa chữa; đồng ý giao trả căn nhà cho Nguyên đơn và đề nghị trả cho Nguyên đơn mỗi tháng 25.000.000 đồng cho giai đoạn từ tháng 07/2011 đến tháng 04/2023, do gặp khó khăn về tài chính vì ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19. Về số tiền cọc 25.000.000 đồng, Bị đơn tự thỏa thuận với Tổng Công ty và không yêu cầu phản tố trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2023/DS – ST ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã:
Căn cứ vào: khoản 2 và khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, Điều 170 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
Buộc ông Trần Minh Q, Công ty TNHH D và các tổ chức, cá nhân đang chiếm hữu, sử dụng căn nhà số A (tầng trệt) Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải bàn giao căn nhà này cho Công ty TNHH MTV D.
Ông Trần Minh Q phải trả cho Công ty TNHH MTV D số tiền bồi thường thiệt hại là 10.243.571.196 đồng.
Kể từ tháng 5/2023 cho đến khi bàn giao căn nhà trên thực tế, ông Trần Minh Q còn phải trả cho Công ty TNHH MTV D số tiền tương đương tiền thuê nhà phải thu theo các văn bản Ủy ban nhân dân Thành phố H, Sở T5, Sở T3, Sở Xây dựng, Cục T6 ban hành.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau đó, bị đơn ông Trần Minh Q kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Trần Minh Q có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Huệ T trình bày:
Đối với quyết định của bản án sơ thẩm buộc ông Q phải giao trả mặt bằng tầng trệt 103 Đ, phường B, Quận A cho Công ty TNHH MTV D: ông Q đề nghị gia hạn cho ông thời gian giao trả từ 08 đến 12 tháng để ông có thể chuẩn bị tìm mặt bằng mới, thông báo cho các đối tác khách hàng...
Tại đơn kháng cáo trước đây, ông Q có trình bày không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 10.243.571.196 đồng của nguyên đơn vì ông Q không có lỗi, không chiếm dụng mặt bằng mà đây là do lỗi của các cơ quan, đơn vị được giao sử dụng quản lý tài sản công đã không thực hiện đúng quy định pháp luật làm thiệt hại. Do việc thu hồi mặt bằng không đúng pháp luật, vụ việc khiếu nại kéo dài, ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên hoạt động kinh doanh của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ông Q không cố tình không đóng tiền mặt bằng mà là do các đơn vị quản lý Nhà nước không thu tiền. Bản án sơ thẩm chưa xem xét các quyền lợi, nghĩa vụ của hợp đồng thuê mặt bằng giữa ông Q và Tổng công ty B1 vì hiện nay hợp đồng này vẫn còn tồn tại, chưa được thanh lý.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông Q đồng ý bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn. Tuy nhiên ông Q đề nghị được xem xét chỉ phải trả tiền bồi thường với số tiền thuê nhà một tháng là 48.000.000 đồng, tương đương 2.000 USD/tháng theo đúng như hợp đồng thuê nhà mà ông Q đã ký với Tổng công ty B1, thời gian trả tính từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2023.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng:
- Xem xét giảm cho bị đơn tiền thuê nhà trong 03 tháng từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2011 do Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giãn cách xã hội nên bị đơn không thể tiến hành hoạt động kinh doanh.
- Không buộc bị đơn phải trả số tiền thuê đất 126.073.920 đồng vì số tiền này là của Chi cục thuế Q5 yêu cầu Công ty D phải nộp. Do đó bị đơn không có trách nhiệm phải trả số tiền này.
- Cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn đến hết tháng 4/2023 trong khi ngày xét xử sơ thẩm là ngày 24/4/2023, như vậy cấp sơ thẩm đã tính thêm 06 ngày cho bị đơn. Do đó cần tính toán lại để giảm đi 06 ngày phải trả tiền thuê nhà cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn nhà số A (tầng trệt) Đ, phường B, Quận A thuộc diện Nhà nước quản lý theo Quyết định số 637/QĐ-UB ngày 08/5/1978 của Ủy ban nhân dân Thành phố H và Tờ trình xác lập sở hữu nhà nước ngày 16/12/1993 của Ủy ban nhân dân Quận A. Ngày 07/11/1989, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 758/QĐ-UB/3 về việc kiểm kê thu hồi và tạm giao căn nhà cho Liên hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Q2 (nay là Tổng Công ty B1) làm Cửa hàng phục vụ khách nước ngoài; Liên hiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Q2 có trách nhiệm ký hợp đồng thuê nhà với Xí nghiệp Q3 (nay là Công ty TNHH MTV D). Theo các hợp đồng thuê nhà thì bên thuê nhà không được cho thuê, sang nhượng lại hay chuyển đổi cho cá nhân, đơn vị khác một phần hay toàn bộ diện tích đã ký thuê. Tuy nhiên vào năm 2001, Tổng Công ty B1 đã cho ông Q thuê lại căn nhà trên mà không có sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà. Sau đó, Tổng Công ty B1 và ông Q tiếp tục ký các phụ lục gia hạn thời gian thuê. Theo phụ lục cuối cùng thì thời gian thuê sẽ kết thúc đến hết ngày 31/12/2009. Sau ngày 31/12/2009, Tổng Công ty B1 không gia hạn thêm thời gian thuê nhà cho ông Q.
Ngày 17/5/2004, Ủy ban nhân dân Thành phố H có văn bản số 2775/UB-TM về duyệt phương án xử lý nhà đất của Tổng Công ty B1 theo Quyết định số 80/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu Tổng Công ty B1 phải chấm dứt ngay hợp đồng cho thuê lại tại 04 địa chỉ nhà đất trong đó có căn nhà 103 trệt Đ và giao cho Công ty Q4 (nay là Công ty TNHH Một thành viên D) lập thủ tục thu hồi nhà.
Bắt đầu từ thời điểm năm 2006, Công ty D liên tục có các văn bản yêu cầu Tổng Công ty B1 chấm dứt hợp đồng cho thuê lại căn nhà và bàn giao nhà. Tuy nhiên, Tổng Công ty B1 đều xác định dù đã nhiều lần có giấy mời ông Q làm việc để thanh lý hợp đồng thuê nhà, lấy lại mặt bằng căn nhà nhưng vẫn không thực hiện được và ông Q vẫn tiếp tục sử dụng căn nhà trên.
Đến năm 2013, Ủy ban nhân dân Quận A có các công văn đề nghị ông Q phải bàn giao căn nhà nhưng ông Q vẫn không thực hiện. Trong quá trình chiếm hữu, sử dụng căn nhà, ông Q đã có đơn đề nghị được ký hợp đồng thuê nhà nhưng không được cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà thuộc sở hữu Nhà nước đồng ý.
Như vậy, hợp đồng thuê nhà giữa ông Q và Tổng Công ty B1 đã bị vô hiệu do vi phạm điều cấm do Tổng Công ty B1 không có quyền cho ông Q thuê lại nhà; mặt khác hợp đồng thuê giữa ông Q và Tổng Công ty B1 cũng đã chấm dứt vào ngày 31/12/2009. Ông Q biết rõ việc hợp đồng thuê đã chấm dứt cũng như biết rõ việc không được ký tiếp hợp đồng thuê nhà; các cơ quan Nhà nước liên tục có văn bản yêu cầu ông phải giao trả lại căn nhà nhưng ông Q vẫn không thực hiện. Do đó việc ông Q vẫn tiếp tục chiếm hữu, sử dụng căn nhà là không có căn cứ pháp luật.
Hiện nay nguyên đơn không đồng ý cho ông Q được kéo dài thời gian giao trả căn nhà. Những lý do mà ông Q đưa ra như cần thời gian tìm mặt bằng mới, cần thông báo cho các đối tác khách hàng... là không hợp lý, không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Q về việc được gia hạn thời hạn bàn giao nhà từ 08 đến 12 tháng; buộc ông Q phải có trách nhiệm bàn giao căn nhà cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[2] Đối với kháng cáo của ông Q về việc ông không đồng ý bồi thường do ông không có lỗi, việc tính toán các yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn không có căn cứ, nguyên đơn chưa xem xét đến việc hỗ trợ cho ông Q trong thời kỳ phải ngừng kinh doanh do dịch bệnh Covid. Ông Q còn cho rằng hiện nay còn tồn tại hợp đồng thuê nhà được ký kết giữa ông và Tổng Công ty B1, ông chỉ đồng ý trả tiền thuê nhà cho Tổng Công ty B1. Tại phiên tòa, phía ông Q đề nghị chỉ phải trả tiền bồi thường với số tiền thuê nhà một tháng là 48.000.000 đồng, thời gian tính từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2023.
Hội đồng xét xử nhận thấy, như đã phân tích ở trên, việc ông Q chiếm hữu, sử dụng căn nhà là không có căn cứ pháp luật; thỏa thuận cho thuê nhà giữa Tổng Công ty B1 và ông Q đã chấm dứt vào ngày 31/12/2009. Sau ngày 31/12/2009, Tổng Công ty không gia hạn thêm thời gian thuê nhà cho ông Q. Mặt khác, theo Quyết định 2920/QĐ – UBND ngày 3/8/2010 của Ủy ban nhân dân Quận A thì Tổng Công tB1 cũng không được xem xét tiếp tục cho thuê căn nhà nên ngày 10/8/2010 Tổng Công ty đã bàn giao căn nhà cho Công ty D. Ngày 11/8/2010, Tổng Công t và Công ty D tiến hành thanh lý hợp đồng thuê nhà. Việc ông Q cố tình chiếm hữu, sử dụng nhà, không trả lại nhà đã gây thiệt hại cho nguyên đơn, khiến nguyên đơn không thể thực hiện việc khai thác đối với tài sản. Ông Q không phải là người thuê nhà hợp pháp mà là chiếm hữu, sử dụng nhà không có căn cứ pháp luật nên không có cơ sở để xem xét việc hỗ trợ cho ông Q trong thời gian phải ngừng kinh doanh do dịch bệnh Covid từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2011 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với số tiền 126.073.920 đồng mà cấp sơ thẩm buộc ông Q phải trả cho nguyên đơn, đây là số tiền nguyên đơn yêu cầu ông Q phải bồi thường thiệt hại do việc ông Q cố tình chiếm hữu, sử dụng nhà, không trả lại nhà khiến nguyên đơn không thể sử dụng, việc khai thác đối với tài sản trong khi nguyên đơn vẫn phải nộp tiền thuê đất theo quy định. Số tiền này là tiền bồi thường thiệt hại, không phải buộc ông Q phải thay nguyên đơn nộp cho Chi cục Q5. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông Q cũng không có kháng cáo đối với khoản tiền bồi thường này.
Việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm cho ông Q 06 ngày tiền thuê nhà của tháng 4/2023 vì cấp sơ thẩm xét xử vào ngày 24/4/2023 nhưng vẫn tính thiệt hại là tiền thuê nhà đến hết tháng 4/2023 là tính dư cho ông Q: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phần quyết định của cấp sơ thẩm có tuyên “kể từ tháng 5/2023 cho đến khi bàn giao căn nhà trên thực tế, ông Q còn phải trả số tiền tương đương tiền thuê nhà phải thu...”. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29/12/2023, phía ông Q vẫn chưa thực hiện việc bàn giao căn nhà cho nguyên đơn, do đó việc phải sửa bản án sơ thẩm để trừ cho ông Q 06 ngày tiền thuê nhà của tháng 4/2023 là không cần thiết.
Cấp sơ thẩm buộc ông Q phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn một khoản tiền tương đương số tiền thuê nhà phải thu theo quy định từ tháng 7/2011 đến tháng 4/2023 và số tiền thuê đất còn phải nộp vào ngân sách Nhà nước từ ngày 08/01/2010 đến ngày 30/6/2014 là có căn cứ. Việc tính toán tiền thuê nhà, số tiền thuê đất phải nộp vào ngân sách Nhà nước được căn cứ theo các văn bản do Ủy ban nhân dân Thành phố H, Sở T5, Sở T3, Sở Xây dựng, Cục T6 ban hành.
[3] Từ những nhận định nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Q, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Q phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, Điều 170 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Minh Q. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Minh Q, Công ty TNHH D và các tổ chức, cá nhân đang chiếm hữu, sử dụng căn nhà số A (tầng trệt) Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải bàn giao căn nhà này cho Công ty TNHH MTV D.
Ông Trần Minh Q phải trả cho Công ty TNHH MTV D số tiền bồi thường thiệt hại là 10.243.571.196 đồng (Mười tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu năm trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm chín mươi sáu đồng).
Kể từ tháng 5/2023 cho đến khi bàn giao căn nhà trên thực tế, ông Trần Minh Q còn phải trả cho Công ty TNHH MTV D số tiền tương đương tiền thuê nhà phải thu theo các văn bản Ủy ban nhân dân Thành phố H, Sở T5, Sở T3, Sở Xây dựng, Cục T6 ban hành.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Ông Trần Minh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 118.243.571 đồng (Một trăm mười tám triệu hai trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm bảy mươi mốt đồng).
Ông Trần Minh Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0043544 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Q5.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Dung |
Bản án số 1276/2023/DS-PT ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 1276/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
