Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1275/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Bà Đặng Thị Thu Oanh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị G – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2364/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2664/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 3688/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1982
  2. Nơi đăng ký thường trú: số D L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi cư trú: số A N, Khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Thái Thanh H1, sinh năm 1972
  4. Nơi cư trú: Xưởng gỗ không số (34/4) Bùi Xương T, Khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Bà và ông Thái Thanh H1 có tìm hiểu nhau, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2001 tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận B (nay là phường T, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H1 không quan tâm vợ con, không phụ vợ chăm lo cuộc sống gia đình; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt. Từ tháng 6/2023 đến nay, vợ chồng đã ly thân không còn sống chung nhà. Nay bà H cảm thấy không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thái Thanh H1.

Về con chung: Bà H xác nhận bà và ông H1 có 02 người con chung tên Thái Hoàng Q, sinh ngày 15/5/2002 đã trưởng thành và Thái Vân K, sinh ngày 13/4/2009. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung chưa thành niên tên Thái Vân K, bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà T1 khai không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông Thái Thanh H1 đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H1 đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H1 và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Thái Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Thái Thanh H1; Về con chung: có 02 người con chung tên Thái Hoàng Q, sinh ngày 15/5/2002 đã trưởng thành và Thái Vân K, sinh ngày 13/4/2009; giao bà H trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Thái Vân K, ông H1 không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Cẩm H nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Thái Thanh H1, ông H1 có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Thái Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Thái Thanh H1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2001 tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận B (nay là phường T, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01/2001 nên hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp.

Theo lời khai của bà H thì sau khi kết hôn được 07 năm thì vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H1 không quan tâm vợ con, không phụ vợ chăm lo cuộc sống gia đình; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt. Hiện nay, vợ chồng đã ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Thái Thanh H1 không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông H1 không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định. Điều đó thể hiện việc ông H1 cố tình bỏ mặc, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa ông với bà H. Mặt khác, tại Công văn số 224/UBND ngày 24/3/2025 của Ủy ban nhân dân phường L phúc đáp tình trạng hôn nhân cho Tòa án có nội dung: “Trong thời gian sống chung thì tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã trầm trọng. Nguyên nhân dẫn đến phát sinh mâu thuẫn là do ông H1 không phụ tiền nuôi con, đi nhậu về diễn ra mâu thuẫn và sau 1 thời gian ông H1 tự bỏ nhà đi”. Xét thấy lời khai của bà H là phù hợp với nội dung trả lời xác minh nêu trên. Mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Thái Thanh H1 là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Thái Hoàng Q, sinh ngày 15/5/2002 đã trưởng thành và Thái Vân K, sinh ngày 13/4/2009. Xét, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung chưa thành niên tên Thái Vân K và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại bản trình bày nguyện vọng của trẻ thực hiện tại Tòa án cũng thể hiện nguyện vọng được sống cùng mẹ. Tại Công văn số 224/UBND ngày 24/3/2025 của Ủy ban nhân dân phường L nêu trên có nội dung: “Hiện tại bà H đang nuôi con và suốt thời gian bỏ đi ông H1 không chu cấp cho con cũng như không liên hệ hỏi thăm. Do đó nên giao lại con chung chưa thành niên tên Thái Vân K, sinh ngày 13/4/2009 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ tốt hơn”. Do đó, để đảm bảo duy trì sự phát triển ổn định về mọi mặt của trẻ, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con là phù hợp với tình hình thực tế nên có căn cứ chấp nhận.

Xét việc bà H trình bày có đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Thái Thanh H1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01/2001, đăng ký ngày 20/9/2001 tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận B (nay là phường T, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

  • Về con chung: Có 02 người con chung tên Thái Hoàng Q, sinh ngày 15/5/2002 đã trưởng thành và Thái Vân K, sinh ngày 13/4/2009. Giao bà Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung chưa thành niên tên Thái Vân K. Ông Thái Thanh H1 không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con.

  • Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H tự khai không có.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0044515 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Lệ Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1275/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1275/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger