|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1275/2023/DS-PT Ngày: 29/12/2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền
Bà Trần Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 548/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 3376/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5429/2023/QĐ-PT ngày 20/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16696/2023/QĐ-PT ngày 12/12/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1980;
Địa chỉ: D Khu dân cư N, Khu V, phường H, quận C, tỉnh Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của ông T: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979;
Địa chỉ: B Đường số A, Khu dân cư E, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền số công chứng 252, Quyển số 01/2022 SCT/CK, ĐC ngày 14/7/2022 do Văn phòng C, thành phố Cần Thơ chứng nhận).
2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm: 1980;
Địa chỉ: A N, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà N: Bà Lê Hoài G, sinh năm 1978;
Địa chỉ: 4 N, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 29/11/2023, số công chứng 003183, quyển số 11/2023/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận).
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Thanh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:
Tại Đơn khởi kiện ngày 13/7/2022, các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Duy T có ông Nguyễn Văn H đại diện trình bày:
Ngày 07/10/2020 ông Nguyễn Duy T có cho bà Trần Thị Thanh N vay số tiền 2.500.000.000 đồng, không lãi suất, không hẹn ngày trả, đồng thời có lập văn bản giấy tay “Giấy cho mượn tiền”. Theo đó bà N đã trả cho ông T thành 03 đợt, tổng cộng là 900.000.000 đồng thông qua tài khoản ngân hàng của ông T tại V. Số tiền 1.600.000.000 đồng còn lại thì bà N chỉ hứa hẹn trả mà không trả. Nay ông T khởi kiện yêu cầu bà N phải thanh toán số tiền còn nợ là 1.600.000.000 đồng cho ông T ngay sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật.
Ông T xác định tiền cho bà N vay là tiền của cá nhân ông T, và ông T xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bà N trả lại cho ông T số tiền nêu trên. Ông T yêu cầu không triệu tập thêm ai vào tham gia tố tụng trong vụ án này.
Bị đơn bà Trần Thị Thanh N trình bày:
Số tiền 1.600.000.000đồng mà ông T khởi kiện bà là không có thật. Số tiền này là một phần trong giao dịch chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cùng các tài sản của Công ty TNHH Đ, trong đó có bao gồm cả Dự án Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp Descon. Giao dịch này diễn ra vào tháng 11/2020, theo đó giá trị chuyển nhượng là 15.000.000.000 đồng. Trong đó có 12.500.000.000 đồng được giao dịch bằng 02 căn biệt thự ở P và 2.500.000.000 đồng là tiền mặt. Số tiền 2.500.000.000 đồng thì giữa bà và ông T có lập “Giấy cho mượn tiền” ghi ngày 07/10/2020. Lý do cho việc lập văn bản này với mục đích giấu gia đình, vì ông T không muốn gia đình biết nên giả cách bằng “Giấy cho mượn tiền” này. Theo đó bà đã chuyển cho ông T tất cả là 03 lần qua tài khoản ngân hàng V của ông T, tổng cộng là 900.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 1.600.000.000 đồng bà quyết định không chuyển vì ông T và gia đình không thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu.
Vào tháng 3/2021, bà yêu cầu ông T làm biên bản bàn giao ranh giới đất dự án và giới thiệu bà với Công ty D1 nhưng ông T không làm. Tháng 5/2022, sau khi liên lạc với ông T không được thì bà có xuống nhà ông T tại Cần Thơ để yêu cầu bàn giao. Tại đây ông T có hẹn trong vòng 30 ngày kể từ ngày 11/5/2022 sẽ lên bàn giao, cắm mốc ranh chia đất. Tuy nhiên, ông T vẫn không thực hiện. Do đó, bà N không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3376/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Duy T: Buộc bà Trần Thị Thanh N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Duy T số tiền là 1.600.000.000 (Một tỷ sáu trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Duy T cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 11/9/2023, bị đơn bà Trần Thị Thanh N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án.
Bị đơn bà Trần Thị Thanh N do bà Lê Hoài G là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà N không vay số tiền 2.500.000.000 đồng của ông T. Giấy mượn tiền ngày 07/10/2020 thực chất là thỏa thuận trả tiền thêm ngoài hợp đồng cho giao dịch chuyển nhượng lại cổ phần cùng tài sản, dự án của Công ty TNHH Đ đang hợp tác với Công ty Cổ phần D1 tại Lâm Đồng giữa bà N và ông T1, ông T. Việc chuyển nhượng này thể hiện rất rõ qua tin nhắn của bà N và ông T thông qua ứng dụng Zalo. Do hiện nay dự án bà N nhận chuyển nhượng lại từ gia đình ông T bị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ nên bà N không đồng ý trả tiếp số tiền theo yêu cầu của ông T. Bà N có yêu cầu phản tố buộc ông T trả cho bà N 900.000.000 đồng đã nhận của bà N. Vấn đề này bà N đã đặt ra ở Tòa án cấp sơ thẩm nhưng chưa được xem xét thụ lý, giải quyết. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho bà N, để vụ án giải quyết được khách quan, công bằng, đúng bản chất của sự việc đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm về xét xử lại theo thủ tục chung.
Nguyên đơn ông Nguyên Duy T2 do ông Nguyễn Văn H làm người đại diện theo ủy quyền trình bày: Giao dịch chuyển nhượng vốn và dự án giữa ông T1, ông T2 và bà N đã thực hiện xong. Bà N không khởi kiện về giao dịch chuyển nhượng này chứng tỏ rằng quyền lợi của bà N không bị xâm phạm. Việc ông T2 khởi kiện đòi bà N trả tiếp số tiền còn thiếu là quan hệ vay mượn giữa bà N và ông T2 không liên quan đến giao dịch chuyển nhượng nêu trên. Thực tế,
việc bà N đã chuyển trả cho ông T2 900.000.000 đồng đã chứng tỏ rằng bà N có vay tiền của ông T2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn trả số tiền 2.500.000.000 đồng là căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 07/10/2020 được ký giữa nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn không thừa nhận có vay số tiền này và nguyên đơn cũng không chứng minh được có việc giao nhận tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn xuất trình các tin nhắn thông qua ứng dụng Zalo nội dung thể hiện có liên quan đến số tiền mà ông T2 khởi kiện. Do đó, để giải quyết vụ án được đúng pháp luật cần làm rõ có việc chuyển nhượng vốn và dự án như bà N trình bày không? Số tiền 900.000.000 đồng bà N chuyển cho ông T2 là tiền gì? Cần cho đối chất làm rõ những mâu thuẫn trong lời trình bày cũng như tài liệu chứng cứ của các bên. Những vấn đề này không bổ sung ngay được nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ để ông Nguyễn Duy T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Thanh N trả nợ là Giấy cho mượn tiền đề ngày 07 tháng 10 năm 2020 có nội dung: Bên B (ông T) đồng ý cho bên A (bà N) mượn số tiền 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng, lãi suất: không có, ngày trả: không có.
Theo ông T trình bày, ông T đã cho bà N vay 2.500.000.000 đồng và từ khi viết giấy nợ đến nay bà N đã trả được cho ông T số tiền 900.000.000 đồng. Do đó, ông T yêu cầu bà N trả tiếp số nợ còn lại là 1.600.000.000 đồng.
Phía bà N không thừa nhận có vay ông T số tiền 2.500.000.000 đồng. Bà N cho rằng, sở dĩ có giấy nợ trên là vì ông T yêu cầu bà N phải trả thêm ngoài số tiền bà N phải thanh toán do nhận chuyển nhượng lại toàn bộ cổ phần cùng các tài sản khác của Công ty TNHH Đ của gia đình ông T, trong đó bao gồm cả dự án khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp đang hợp tác với Công ty D1. Để
nhận được dự án trên, bà N phải giao 02 biệt thự tại thành phố P, Kiên Giang của bà N và trả riêng cho ông T 2.500.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng này, bà N đã ủy quyền sử dụng 02 biệt thự ngoài P cho em gái của ông T là bà Nguyễn Hoàng Vân K và chuyển khoản cho ông T được 900.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay hợp đồng chuyển nhượng nêu trên giữa bà N và gia đình ông T không thực hiện được nên bà N không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông T. Vấn đề này, bà N đã trao đổi nhiều lần với ông T. Để chứng minh, bà N xuất trình các tin nhắn thông qua ứng dụng Zalo được Văn phòng T5 lập vi bằng ghi nhận lại. Trong vi bằng có rất nhiều nội dung, trong đó nội dung trao đổi giữa ông T và bà
Nguyễn Thị Thanh T3 (là nhân viên của bà N) có những đoạn như sau:
Ông T: Hôm bữa anh có bàn với chị N.Nói em làm giúp anh cái giấy của 3 tỷ còn lại của anh.N nói để nói em làm cho.Giúp dùm a cái này nhe
Bà T3: 2.5ty hay 3 ty anh
Ông T: 3 tỷ em vì thuế 5/100 của nhà phú Q bên a tự đóng. Lúc trước là N định đóng. 2 căn hơn 500tr xíu
Bà T3: Dạ. Để e hỏi lại C Nga xong báo a nha
...
Ông T: Nhớ đừng đưa và nói gì cái giấy tay 2tỷ500 nhe em.Chi giao hồ sơ về nhà cửa.Em mà đưa lộn là em phải nuôi anh luôn đó heheh
Nội dung trao đổi giữa bà N và ông T có những đoạn như sau:
Ông T: Có gì gửi dùm T tiền tháng này nhe...
Bà N: Đag kẹt tiền lắm
Ông T: Tháng này kẹt tiền thì có gì gửi cho T 200 thôi hay bn cũng được trong khả năng
Bà N: Ok
...
Bà N gửi ảnh chụp màn hình chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng cho ông T có nội dung “Nga ck"
Ông T: OK thanks N
...
Bà N: Xác nhận dùm N số tiền đến thời điểm hiện tại
Ông T: Lần 1 500trieu.Lần 2 200trieu, Lần này 200trieu nữa là 900trieu
Bà N: Ok
...
Bà N: T ơi, N nói cái này là sự minh bạch trong cv mua bán của nhà T v N. Lúc trước khi mua lại dự án này N có cho LS lên dalat tìm hiu thì dự án này đúng như tất cả hso của T nên N mới tiến hành mua lại. Nhưng từ lúc hoàn tất thủ tục thì bên phía T k chính thức bàn giao khu đất cũng như có 1 buổi làm việc với Descon như lúc đầu thỏa thuận. Mấy hnay N cug trao đổi với chú T1 về vd này nhug chú nói là D - ktoan làm dc hết. Mà N nói chuyện với D thì nó nói nó k bit. Làm N khó xử quá.
Ông T: Ba T4 nói đê lh với tổng giám đốc mới rối dẫn N đi.
...
Ông T: Tháng này khi nào N chuyển tiền cho T vậy?
Bà N: Để giải quyết dứt điểm vụ gặp với bên Descon N sẽ chuyển tiếp. Vì bây giờ đag lưng chừng wa..
Ông T: Cái chuyện đó T thấy bt mà.nó cũng giống như bên P vậy.Đât T thì nằm ở Đ ng đứng tên thì ở S.T bàn giao lai cho N. Còn nhà thì ở P mà chủ đầu tư Ceo lại ở Hà nội N nói cuối năm có sổ mà bây giờ vẫn chưa có bên T cũng đâu có yêu cầu gì bên N là dẫn ra chủ đầu tư hay hối thúc phải ra số liền. Cứ chờ đợi thôi.
...
Ông T: Có gì N gửi tiền cho T đợt này nhé cung 2 tháng mấy rồi.
Bà N: K phải k chuyển đc mà nhug việc về miếng đất này k rõ ràng. N đag làm vb gởi wa descon. Nếu k dc N sẽ trả miếng đất này cho T
Như vậy, nội dung các tin nhắn nêu trên có đề cập đến số tiền 2.500.000.000 đồng và số tiền 900.000.000 đồng; có đề cập đến dự án hợp tác với Công ty Cổ phần D1, biệt thự ở P và một số thỏa thuận khác giữa bà N và gia đình ông T như bà N trình bày. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của ông T cho rằng giao dịch giữa ông T và bà N là giao dịch vay mượn tiền, không liên quan đến việc chuyển nhượng cổ phần, dự án của Công ty TNHH Đ. Như vậy, lời khai của các đương sự có mâu thuẫn với nhau và có mâu thuẫn với tài liệu do bà N xuất trình. Do đó, để có cơ sở giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các đương sự thì cần thu thập tài liệu để làm rõ có việc chuyển nhượng như bị đơn trình bày không? Nếu có, việc chuyển nhượng đã hoàn tất chưa? Nếu chưa thì vì sao? Lỗi dẫn đến việc không thực hiện hợp đồng là do ai? Số tiền bà N chuyển khoản cho ông T là tiền gì? Có liên quan gì đến dự án bà N nhận chuyển nhượng lại từ gia đình ông T không? Khi chưa làm rõ các vấn đề trên mà đã buộc bà N phải trả cho ông T số tiền 1.600.000.000 đồng sau khi trừ số tiền 900.000.000 đồng đã chuyển khoản trước đó là chưa đảm bảo quyền lợi cho đương sự.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thanh N; Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại theo thủ tục chung.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo của bà N nên bà N không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 148, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thanh N.
Tuyên xử: Hủy bản án sơ thẩm
1/ Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 3376/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại theo thủ tục chung
2/ Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Trần Thị Thanh N không phải chịu. Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà N là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0004840 ngày 21/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CẤP PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Loan |
Bản án số 1275/2023/DS-PT ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 1275/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
