|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Minh
- Ông Phạm Văn Liệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024; về việc “Tranh chấp hôn nhân và Gia đình ly hôn, nuôi con".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:102B/QĐXXST- DSST ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 93/2024/QĐST ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1977
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thanh H, sinh năm 1974
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh C có đơn xin vắng mặt, bà H vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản khai, biên bản hoà giải tại phiên toà nguyên đơn ông Bùi Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Ông C, bà H tự tìm hiểu nhau và xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được cấp vào sổ:140/2002/GCNKH ngày 08/10/2002. Trong thời gian chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng đến năm 2007 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng ý kiến trong việc làm kinh tế của gia đình, mâu thuẩn về tình cảm vợ chồng và ly thân vào 4/2012. Từ khi ly thân cho đến nay có gặp nhau nhưng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay ông C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà H vì không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ chung sống với nhau.
- Về con chung: Ông C, bà H chung sống với nhau có 01 con chung, họ và tên: Bùi Thị Mỹ Q, sinh ngày 13/12/1996 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: vợ chồng không có nợ ai, cũng không ai nợ lại nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn bà Huỳnh Thanh H vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của ông C1 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H cư trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024. Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102B/QĐXXST- HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 93/QĐST – DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, vụ án được xét xử vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 31 tháng 7 năm 2024, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Huỳnh Thanh H là phù hợp.
[2]. Về nội dung: Giữa ông C, bà H chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 08/10/2002. Việc kết hôn giữa ông C, bà H là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Ông C, bà H chung sống hạnh phúc và đến tháng 4/2012 ly thân với nhau. Từ khi ly thân đến nay không hàn gắn tình cảm sống chung lại với nhau được.
Xét thấy quan hệ hôn nhân phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai người, phải có tình cảm yêu thương, quan tâm đến nhau thì mới hạnh phúc. Ông C yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bà H, vì tình cảm không còn không có khả năng đoàn tụ chung sống với nhau. Vì vậy cho thấy mâu thuẩn giữa ông C, bà H làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thề kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định“ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Cho nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Bùi Văn C đối với bà Huỳnh Thanh H là phù hợp.
[ 2.2 ]. Về con chung: Ông C, bà H chung sống với nhau có 01 con chung, họ và tên: Bùi Thị Mỹ Q, sinh ngày 13/12/1996 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng. Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C xác định ông và bà H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng không có ý kiến của bà H, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Ông C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bà H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông C, bà H có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Bùi Văn C với bà Huỳnh Thanh H.
- Về con chung: Về con chung: Ông C, bà H chung sống với nhau có 01 con chung, họ và tên: Bùi Thị Mỹ Q, sinh ngày 13/12/1996 đã trưởng thành và tự lao động tạo ra thu nhập và sinh sống riêng. Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông C phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0006623 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Ông C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Bà H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trinh |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1977 Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Bà Huỳnh Thanh H, sinh năm 1974 Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
