|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI Bản án số: 127/2023/HS -ST Ngày: 29 - 11 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt
Ông Đinh Quang Hòa
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn N, sinh năm 1995; ĐKHKTT: Thôn I, xã S, huyện P, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị D; Vợ: Nguyễn Thị Bích K; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 06/7/2023 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “Đánh bạc”.
Bị can đầu thú, tạm giữ từ ngày 20/7/2023 đến ngày 26/7/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1995 (đã chết); địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện B, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của chị B: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện B, Thành phố Hà Nội. Bà H ủy quyền cho chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn C, xã M huyện B, Thành phố Hà Nội (theo Văn bản ủy quyền ngày 27/7/2023); Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trạch L, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện B, Thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện B, Thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Công ty cổ phần V và Thương mại; người đại diện theo pháp luật ông Lưu Hùng C; Giám đốc Công ty CP V1; Ông C ủy quyền cho anh Vũ Đình T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A phố C, phường S, thị xã S, Thành phố Hà Nội. (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/8/2023); anh T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn N, trú tại thôn I, xã S, huyện P, Thành phố Hà Nội lái xe taxi cho Công ty Cổ phần V, địa chỉ: phường T, thị xã S, Thành phố Hà Nội.
Đêm ngày 19/7/2023, khi đang lái xe ô tô taxi nhãn hiệu Huyndai i10 màu xám, BKS: 30E-611.36 chở khách tại thôn L, xã S, huyện P thì N nhận được điện thoại của chị Tạ Thị Lệ T2 là khách hàng quen gọi đến đón tại quán K1 "Q Lào T”, địa chỉ: xã T, huyện P để về nhà. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi N đến đón chị T2 ở địa chỉ trên đưa về nhà, thì N tiếp tục điều khiển xe taxi đi trên Q (viết tắt là QL32) hướng từ trung tâm Hà Nội đi B. Khi đến gần ngã tư C, phường V, thị xã S, N cho xe rẽ phải từ QL32 vào đường đi P (phía UBND phường V), khi đó tín hiệu giao thông tại ngã tư đang ở chế độ đèn vàng nhấp nháy. Khi chuyển hướng, N không bật xi nhan báo hướng rẽ, không quan sát phía sau nên cánh cửa trước bên phải xe ô tô của N đã va chạm với phần đầu bên trái xe mô tô wave dung tích 109cm³ màu trắng, BKS: 29L5-310.04 do anh Nguyễn Trạch L, sinh ngày 19/7/2005, trú tại: Thôn C, xã M, huyện B điều khiển, chở sau là dì ruột (chị Đỗ Thị B, sinh năm1995, trú tại thôn G, xã M, huyện B) đang di chuyển phía sau bên phải cùng chiều với xe của N. Sau va chạm, N di chuyển xe về hướng UBND phường V khoảng 10m thì dừng xe quay lại nơi xảy ra va chạm, thấy xe mô tô 29L5-310.04 bị đổ trên mặt đường, anh L bị thương nhẹ, còn chị B nằm bất tỉnh trên mặt đường, vùng đầu chảy máu, 02 phương tiện hư hỏng. Sau đó, chị B được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, do thương tích nặng chị đã tử vong vào hồi 01 giờ 00 phút ngày 20/7/2023.
Sau khi nhận được tin báo, Công an thị xã S đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và xác minh, điều tra làm rõ vụ việc.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Tai nạn xảy ra tại đoạn Km42+650 QL32 thuộc ngã tư C, địa phận phường V, thị xã S (có 5 hướng đi: một chiều đi P, một chiều đi B, một chiều đi đường T, một chiều đi S, huyện P, một chiều đi P), tại đây có gắn hệ thống đèn tín hiệu giao thông ở đầu mỗi chiều đường. Nơi xảy ra thuộc giữa ngã tư, rẽ đi P. Đường từ QL32 đi P là đường nhựa bằng phẳng, được phân làm 2 làn đường bằng vạch sơn đứt quãng màu vàng, mặt đường rộng 5,9m, làn bên trái tính từ QL32 rẽ đi P rộng 3m. Bề rộng mặt đường chiều QL32 hướng P đi B rộng 19,2m, trên mặt đường được phân chia 2 làn trái, phải phân cách nhau bằng vạch kẻ sơn liền trắng, làn trái chiều đường này có mũi tên đi thẳng rẽ trái, làn phải có mũi tên đi thẳng rẽ phải dưới mặt đường để chỉ hướng. Trên mặt từ QL32 đi P có khoảng vỉa hè phân định chiều từ P đi B và từ P rẽ đi P được đặt một số chậu cây cảnh. Lấy mép đường bên phải chiều từ QL32 đi P làm chuẩn và biển báo ký hiệu Trung Hà 21km nằm cách cột mốc H7/42 46,5m làm mốc chuẩn, xác định các dấu vết, đồ vật tại hiện trường như sau:
- Vết cày xước (1) diện (7,9x0,01)m nằm trên phần đường bên trái chiều từ QL32 đi P, vết có chiều hướng QL32 đi P; đầu và cuối của vết cách mép đường chuẩn 5,8m và 5,7m; đầu vết cách điểm mốc 10,6m.
- Vết cày xước (2) diện (10,7x0,01)m nằm trên phần đường bên trái hướng QL32 đi P, chiều hướng QL32 đi P; đầu vết cách mép đường chuẩn 5,2m, cuối vết là điểm trùng với giá để chân bên trái của xe mô tô 29L5-310.04 cách mép đường chuẩn 4,7m.
- Vết cày xước (3) dài 2,7m điểm đầu rộng 0,1m, điểm cuối rộng 0,05m nằm trên vỉa hè đường QL32 đi P, chiều hướng P đi B; đầu và cuối vết cách mép đường chuẩn 6,85m và 6,7m, đầu vết cách điểm mốc 6,9m.
- Vị trí chậu cây cảnh và đất đá trên vỉa hè đường QL32 đi P (4) có diện (1,6x1,4)m, tâm cách mép đường chuẩn 7,3m.
- Vết máu màu đỏ (5) diện (15x20)cm nằm trên vỉa hè đường QL32 đi P, tâm vết cách mép đường chuẩn 7,8m.
- Vết mảnh vỡ nhựa (6) diện (0,9x0,6)m nằm bên trái đường QL32 đi P, tâm vết cách mép đường chuẩn 5,7m, cách điểm mốc chuẩn 2,2m.
- Vị trí xe mô tô 29L5-310.04 (7) đổ nghiêng sườn trái xuống mặt đường và ở trên làn đường trái hướng đường QL32 đi P, đuôi xe hướng QL32. Từ tâm trục bánh trước và bánh sau xe đến mép đường chuẩn là 4,2m và 5m; tâm trục bánh trước đến điểm mốc chuẩn là 0,5m.
- Vết máu màu đỏ (8) diện (30x20)cm nằm trên đường bên trái hướng QL32 đi P, tâm vết cách mép đường chuẩn 5,7m, cách mốc chuẩn 35cm.
- Vị trí xe ô tô 30E-611.36 dừng đỗ trên đường bên phải hướng QL32 đi P, đầu xe hướng P, đuôi xe hướng QL32. Từ tâm trục bánh trước và bánh sau bên phải xe cách mép đường chuẩn là 95cm và 1,4m; tâm trục bánh sau bên trái xe cách điểm mốc chuẩn là 1,8m.
Khám nghiệm và trưng cầu pháp y tử thi Đỗ Thị B:
1. Khám ngoài:
- Đầu, mặt: + Rách da vùng trán sát chân tóc KT: (1,5x0,2)cm; sầy sát da vùng mặt trái, sống mũi, vùng miệng, cằm trái, cổ trái và xương đài trái.
- + Hai lỗ mũi, miệng có máu; gãy răng 31, 42.
- + Sập dập niêm mạc môi trên, bầm tím niêm mạc môi trên.
- + Sờ nắn không thấy vỡ xương sọ; gãy xương hàm dưới.
- Cổ vững, ngực mất vững.
- Các bộ phận khác: Xương ức, tay phải, tay trái, chân...: có các vết bầm tím, sây sát da.
2. Pháp y tử thi xác định nguyên nhân chết:
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 950/902/GĐPY-TTPY ngày 11/8/2023 của Trung tâm Pháp y- Sở Y (bút lục 43 đến 45), kết luận:
“Nạn nhân Đỗ Thị B sinh năm 1995 tử vong do vỡ tâm nhĩ phải, tràn máu màng tim, dập nhu mô phổi, tràn máu đường hô hấp kèm theo chấn thương hàm mặt, tràn máu khoang màng phổi hai bên dẫn đến ngừng tuần hoàn và hô hấp cấp”.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:
Tại các biên bản khám nghiệm ngày 28/7/2023, xác định:
1. Dấu vết trên xe ô tô biển số 30E-611.36
- Mặt bên trái ba đờ sốc phía trước đầu xe có dấu vết mài trượt, bong tróc sơn, bám dính chất màu nâu diện (60x53)cm.
- Kính chắn gió cánh cửa trước bên phải bị dập vỡ toàn bộ, cánh cửa bị biến dạng, bề mặt bám dính chất màu trắng diện (115x78)cm.
- Gương chiếu hậu bên phải bị bung rời khỏi xe.
- La răng bánh trước bên phải có dấu vết hằn kim loại kích thước (20x6)cm.
- Lốp bánh trước bên trái bị hết hơi.
- Bên trong xe ở ghế phụ và mặt táp lô có rải rác các mảnh kính vỡ.
- Mặt ngoài ốp gương bên phải bị bung rời khỏi xe có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng kích thước (18x 6)cm.
2. Dấu vết trên xe mô tô biển số 29L5-310.04
- Mặt gương chiếu hậu bên trái bị dập vỡ, cán gương biến dạng chiều hướng trước về sau.
- Đầu ngoài tay nắm bên trái có vết mài trượt cao su và kim loại, kích thước (3,5x2,5)cm.
- Ốp bảo vệ đèn pha và đèn xi nhan bên trái bị dập vỡ, bề mặt bám dính chất màu đen kích thước (13x17)cm.
- Đầu trên chắn bùn bánh trước có vết mài trượt kích thước (16x2)cm; càng trước bên trái có vết trượt xước kích thước (22x3)cm.
- Cánh yếm bên trái bị dập vỡ, bề mặt bám dính chất màu nâu kích thước (60x15)cm.
- Bàn đi số bị biến dạng chiều hướng trái sang phải; giá để chân trước bên trái và chân chống phụ bị biến dạng chiều hướng trước về sau.
- Mặt ngoài bên trái tay nâng yên xe có vết trượt xước cao su kích thước (31x4,5)cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe bị hư hỏng, không kiểm tra được hệ thống an toàn.
Kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết trên 2 phương tiện:
Tại bản Kết luận giám định số 5936/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của V2 - Bộ C1, kết luận:
- Dấu vết biến dạng, trượt xước, mất sơn màu xám ở mặt ngoài ốp sàn phía dưới cánh cửa trước bên phải xe ô tô biển số 30E-611.36 có chiều từ trước về sau (ảnh 6 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xám ở mặt ngoài cần số trước bên trái xe mô tô biển số 29L5-310.04. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 29L5-310.04 tại vị trí này có chiều từ sau về trước (ảnh 7 trong bản ảnh giám định).
- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài má ngoài lốp bánh trước bên phải và mặt ngoài la zăng bánh trước bên phải xe ô tô biển số 30E-611.36 có chiều từ tâm trục bánh xe ra mặt lăn (ảnh 8, 10 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, mất cao su màu đen ở mặt ngoài má bên trái và mặt ngoài bên trái mặt lăn lốp bánh trước xe mô tô biển số 29L5-310.04. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 29L5-310.04 tại vị trí này có chiều từ mặt lăn vào cạnh vành bánh xe (ảnh 9 trong bản ảnh giám định).
- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 30E-611.36 với xe mô tô biển số 29L5-310.04 trên mặt đường tại hiện trường.
- Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 30E-611.36 và xe mô tô biển số 29L5-310.04 ngay trước khi xảy ra tai nạn.
Kết quả mở dữ liệu 03 camera thu thập được trong vụ tai nạn giao thông xảy ra hồi 23 giờ 40 phút ngày 19/7/2023 tại ngã tư C, địa phận phường V, thị xã S, quan sát nghiên cứu xác định: Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10 màu xám BKS: 30E-611.36 khi đến ngã tư phố C, phương V đã bất ngờ chuyển hướng rẽ phải đi vào đường P không có tín hiệu bật đèn xi nhan.
Định giá tài sản thiệt hại của vụ tai nạn: Tại Công văn số: 278/HĐĐG-TCKH ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S, trả lời: Do tài sản bị hư hỏng nhiều bộ phận, không xác định được tình trạng ban đầu, chủ sở hữu tài sản từ chối yêu cầu định giá và kê khai tài sản bị thiệt hại gây khó khăn trong việc xác định giá trị phần hư hỏng của tài sản. Vì vậy không đủ căn cứ để hội đồng tiến hành định giá.
Hành vi của Nguyễn Trạch L điều khiển xe mô tô tuy đi đúng phần đường, làn đường, nhưng chưa có giấy phép lái xe và chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ. Ngày 10/10/2023, Công an thị xã S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, là đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Đỗ Văn N và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại là chị Đỗ Thị B, số tiền 160.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại là bà Nguyễn Thị H (Là mẹ chị B) đã nhận và không có yêu cầu bồi thường gì nữa, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Đỗ Văn N là người được Công ty Cổ phần V ủy quyền tham gia giải quyết vụ việc không có yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ô tô taxi, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 02 phương tiện (mô tô 29L5-310.04, ô tô 30E-611.36) có giấy tờ hợp lệ. Ngày 29/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra quyết định trao trả cho các chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H (mẹ chị B) và bị can Đỗ Văn N, là đúng pháp luật.
Bản cáo trạng số 126/CT- VKS ngày 30 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, Thành phố Hà Nội truy tố Đỗ Văn N về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố Đỗ Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Văn N từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp với bản án trước buocj bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy địnhVề trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận về việc bồi thường dân sự và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Về giấy phép lái xe đề nghị trả lại cho Đỗ Văn N.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn N không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, các tài liệu điều tra và vật chứng khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, Đỗ Văn N là người có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ theo quy định (hạng C). N điều khiển xe ô tô taxi BKS: 30E-611.36 tham gia giao thông tại khu vực ngã tư Cổng Ô địa phận phường V, thị xã S. Khi đến ngã tư, lúc này đèn tín hiệu giao thông đang ở chế độ đèn vàng (được phép đi nhưng phải đảm bảo an toàn), xe của N bất ngờ chuyển hướng rẽ phải từ Quốc lộ C đi về P phía UBND phường V. Do không bật xi nhan bên phải, không quan sát phía sau dẫn đến va chạm giữa cánh cửa bên phải xe của N với phần đầu và sườn xe bên trái xe mô tô BKS: 29L5-310.04 đi cùng chiều phía sau bên phải do anh Nguyễn Trạch L điều khiển chở sau là chị Đỗ Thị B đang đi trên phần đường của mình. Hậu quả: Chị B bị thương tích nặng tử vong hồi 01 giờ 00 phút ngày 20/7/2023, anh L bị thương nhẹ, 2 phương tiện hư hỏng.
Hành vi của Đỗ Văn N vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông làm chết một người.
Hành vi trên của Đỗ Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây hậu quả chết người. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000đ, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an đầu thú; Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, nhưng lần phạm tội này là do lỗi vô ý. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tổng hợp với hình phạt tại bản án số 64/2023/HSST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại 02 phương tiện (mô tô 29L5-310.04, ô tô 30E-611.36) có giấy tờ hợp lệ. Ngày 29/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra quyết định trao trả cho các chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H (mẹ chị B) và bị can Đỗ Văn N, là đúng pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận xong về phần bồi thường thiệt hại. Gia đình bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 65, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của bản án số 64/2023/HSST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội. Buộc Đỗ Văn N phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 01/03/2023 và từ ngày 20/7/2023 đến ngày 26/7/2023.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Đỗ Văn N 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải Thành phố Y cấp ngày 04/8/2020 mang tên Đỗ Văn N.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhân
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Đức Ngọc |
Bản án số 127/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 127/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bc N phạm tội Vi phạm QĐ về TGGT đường bộ
