Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HSST

Ngày 26 - 9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Minh Hằng

Bà Phạm Thị Yến.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024; thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 263/TB-TA ngày 09 tháng 9 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1994 tại Long An; nơi thường trú: Số H đường T, Phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Số A đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị Bích N; có vợ là Phạm Thị M1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 12/3/2024, tạm giam ngày 19/3/2024; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Văn H2; chị Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Lý Huỳnh N1; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Chị Phạm Thị M1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 10/3/2024, Phạm T đi dự đám cưới của một người bạn tại địa chỉ số B đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Tại đây, T gặp các bạn của mình gồm: Nguyễn Minh T1 (Minh T1); Nguyễn Văn H2; Lê Hoàng Đức H; Đinh Văn K; Nguyễn Thị Thu H3; Nguyễn Huy H1; Dương Thị T2; Lý Huỳnh Như T3 đã rủ những người này đến nhà của mình đang thuê ở số A đường Đ, phường Đ, quận H, Hải Phòng vào buổi tối cùng ngày để xem bóng đá và sử dụng ma túy. Sau khi kết thúc tiệc cưới, T3 đi xe ôm (của người không rõ lai lịch địa chỉ) đến khu vực đường T thuộc quận L, Hải Phòng mua ma tuý mục đích để chuẩn bị tổ chức cho những người bạn trên sử dụng tại nhà mình. Đến nơi, T3 bảo người xe ôm chờ ở đầu ngõ, còn T3 đi vào khu vực đường tàu Mê Linh. Tại đây, T3 mua của 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không xác định được lai lịch) 04 gam ma tuý Ketamine, 01 túi ma tuý tổng hợp “nước vui”, 01 điếu ma tuý cần sa với giá 7.000.000 đồng. Mua xong, T3 đi xe ôm về nhà và cất giấu số ma tuý vừa mua được tại phòng ngủ tầng 3 ở số A đường Đ, phường Đ, quận H với mục đích chờ mọi người đến thì mang ra cùng nhau sử dụng.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, H2, H đến nhà T3 và cả ba lên phòng ngủ tầng 3 ngồi xem bóng đá. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Minh T1 đến. Khi có 04 người trong phòng thì T1 lấy túi ma tuý Ketamine vừa mua được chia thành hai phần, T1 đổ một phần ra tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, dùng thẻ nhựa cứng nghiền thành bột mịn và dùng 01 ống hút bằng kim loại có sẵn trong phòng để sử dụng ma túy Ketamine bằng cách hít trực tiếp vào cơ thể qua đường mũi. Sử dụng xong, T1 để tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng có chứa ma tuý trên mặt bàn đánh nhạc DJ và mời mọi người sử dụng. Sau đó, lần lượt Minh T1, H, H2 đều tự lấy và sử dụng ma túy Ketamine. Trong lúc Minh T1, H, H2 đang sử dụng ma tuý thì T1 tiếp tục đổ số ma túy Ketamine còn lại ra 01 đĩa sứ màu trắng rồi nghiền thành bột mịn và lấy 01 túi ma tuý “nước vui” pha với 02 lon nước ngọt Monster vào trong 01 cốc giữ nhiệt bằng kim loại rồi cất ở góc phòng và lấy 01 điếu cần sa đặt trên mặt bàn đánh DJ với mục đích chờ những người còn lại đến thì cùng nhau sử dụng. Sau khi chuẩn bị xong, T1 định tiếp tục sử dụng ma tuý trên tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng nhưng thấy đã hết nên T1 ngồi nghe nhạc cùng mọi người. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, KH3 đến; khoảng 20 phút sau H1T2 đến. Lúc này, T1 bỏ đĩa sứ đựng ma tuý Ketamine và cốc giữ nhiệt có chứa ma tuý “nước vui” đã chuẩn trước đó đặt xuống nền nhà. T1 tự sử dụng ma tuý “nước vui” bằng cách uống trực tiếp vào cơ thể qua đường miệng và sử dụng ma tuý Ketamine, sử dụng xong T1 để đĩa sứ chứa ma tuý Ketamine và cốc giữ nhiệt chứa ma tuý “nước vui” xuống nền

nhà và nói “ai thích dùng gì thì tự lấy dùng nhé”. Sau đó, lần lượt các đối tượng Minh T1, K, H, H1, H3, T2, H2 đều tự lấy và sử dụng cả hai loại ma tuý Ketamine và ma tuý “nước vui” tương tự như cách T1 đã sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Như đến và được T1 mời lên phòng ngủ tầng 3 sử dụng ma tuý, Như đồng ý tự sử dụng cả hai loại ma tuý Ketamin và ma tuý “nước vui”. Cả nhóm sử dụng ma tuý đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng kiểm tra, phát hiện, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp tại nhà số A đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng tạm giữ: 02 loa màu đen, kích thước 16x12x23cm; 01 thiết bị chuyển đổi âm thanh màu đen, nhãn hiệu LDZS, kích thước 16x11x6cm; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu K2MP10D, kích thước 22x16x9cm và 01 thiết bị phát âm thanh màu trắng, kích thước 4x11x0,5cm.

Tại Kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H, kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,13 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa). Chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ, trong ống hút kim loại và trên thẻ nhựa cứng của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên. Chất lỏng màu vàng đục bám dính trong cốc kim loại của mẫu M3 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, M2N2; không đủ điều kiện xác định thể tích, khối lượng chất ma túy trên. Vỏ túi nilon màu đỏ in logo hình con ngựa và chữ “Ferrari” của mẫu M4 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, M2N2; không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên. Chất bột màu trắng bám dính trên tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng của mẫu M5 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên. Chất bột màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon của mẫu M6 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu bằng test thử ngày 12/3/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H, thể hiện: Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H đều dương tính với MDMA, Ketamine, Methamphetamine, THC (cần sa). Phạm T, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Nguyễn Văn H2 đều dương tính với MDMA, Ketamine, Methamphetamine. Lý Huỳnh N1 dương tính với Ketamine, M2.

Tại Cơ quan điều tra. Ngoài ra, T khai: Tất cả các vật chứng đã thu giữ tại nhà T là của T, T là người chuẩn bị sẵn để phục vụ cho việc sử dụng ma tuý. Lý do xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu ngày 12/3/2024, thể hiện: Nguyễn Minh T1, Đinh Văn KLê Hoàng Đức H đều dương tính với THC (cần sa). T1 trình

bày: Ngày 09/3/2024, T1 một mình đến khu vực đường T thuộc quận L, Hải Phòng gặp và mua của 01 người đàn ông (không quen biết) 01 điếu thuốc (cần sa) với giá 100.000 đồng, sau đó T1 một mình sử dụng tại quán nước ở khu vực vỉa hè đường L thuộc phường Đ, quận H, Hải Phòng. K trình bày: Ngày 08/3/2024, K một mình đến khu vực đường T thuộc quận L, Hải Phòng gặp và mua của 01 người đàn ông (không quen biết) 01 điếu thuốc (cần sa) với giá 80.000 đồng, sau đó K một mình sử dụng trên đường N thuộc phường C, quận H, Hải Phòng. H trình bày: Khoảng 22 giờ ngày 09/3/2024, H nhặt được 01 điếu thuốc (cần sa) ở gần quán nước chè trên đường Đ thuộc phường Đ, quận H, Hải Phòng. Sau đó, H vào quán nước chè ngồi và sử dụng một mình.

Vật chứng thu giữ: Gồm 0,08 gam thực vật khô, vụn cùng vỏ bao gói của mẫu M1 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT/PC09. 01 đĩa sứ, 01 ống hút kim loại, 01 thẻ nhựa của mẫu M2; 01 cốc kim loại của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon in logo hình con ngựa và chữ “Ferrari” của mẫu M4 và 01 vỏ túi nilon của mẫu M6 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 286MT-A/PC09. 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng của mẫu M5 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT-B/PC09. 02 loa màu đen, kích thước 16x12x23cm; 01 thiết bị chuyển đổi âm thanh màu đen, nhãn hiệu LDZS, kích thước 16x11x6cm; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu K2MP10D, kích thước 22x16x9cm và 01 thiết bị phát âm thanh màu trắng, kích thước 4x11x0,5cm.

Tại Bản Cáo trạng số 111/CT-VKSHA ngày 25/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Phạm T thừa nhận đã có hành vi rủ rê, cung cấp ma tuý và các dụng cụ tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể cho 08 đối tượng gồm Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Nguyễn Văn H2Lý Huỳnh N1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

Những người làm chứng và người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt không có lý do. Chủ tọa đã công bố lời khai của người làm chứng và người chứng kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo,

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm T với mức án từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo; về việc xử lý vật chứng:

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,08 gam thực vật khô, vụn cùng vỏ bao gói của mẫu M1 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT/PC09; 01 đĩa sứ, 01 ống hút kim loại, 01 thẻ nhựa của mẫu M2; 01 cốc kim loại của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon in logo hình con ngựa và chữ “Ferrari” của mẫu M4 và 01 vỏ túi nilon của mẫu M6 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 286MT-A/PC09; tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng của mẫu 5 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT-B/PC09; 02 loa màu đen, kích thước 16x12x23cm; 01 thiết bị chuyển đổi âm thanh màu đen, nhãn hiệu LDZS, kích thước 16x11x6cm; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu K2MP10D, kích thước 22x16x9cm và 01 thiết bị phát âm thanh màu trắng, kích thước 4x11x0,5cm là công cụ dùng vào việc phạm tội ; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cải tạo thành công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm T và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành

vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của người làm chứng, người chứng kiến:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ người làm chứng Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Nguyễn Văn H2Lý Huỳnh N1 và người chứng kiến chị Phạm Thị M1. Tuy nhiên vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt người làm chứng, người chứng kiến.

- Về tội danh:

[3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà, đủ cơ sở khẳng định: Từ khoảng 03 giờ đến 14 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, tại Phòng ngủ tầng 3 nhà số A đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nơi Phạm T thuê trọ). Phạm T đã có hành vi rủ rê, cung cấp ma tuý và các dụng cụ tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể cho 08 đối tượng gồm Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Nguyễn Văn H2Lý Huỳnh N1 thì bị Công an phường Đ bắt quả tang. Kiểm tra nước tiểu của các đối tượng trên đều dương tính với MDMA, Ketamine, Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và thuộc trường hợp "Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo Phạm T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Xuân T4 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam thực vật khô, vụn cùng vỏ bao gói của mẫu M1 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT/PC09; 01 đĩa sứ, 01 ống hút kim loại, 01 thẻ nhựa của mẫu M2; 01 cốc kim loại của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon in logo hình con ngựa và chữ “Ferrari” của mẫu M4 và 01 vỏ túi nilon của mẫu M6 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 286MT-A/PC09; tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng của mẫu 5 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT-B/PC09; 02 loa màu đen, kích thước 16x12x23cm; 01 thiết bị chuyển đổi âm thanh màu đen, nhãn hiệu LDZS, kích thước 16x11x6cm; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu K2MP10D, kích thước 22x16x9cm và 01 thiết bị phát âm thanh màu trắng, kích thước 4x11x0,5cm là công cụ dùng vào việc phạm tội.

[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Minh T1, Đinh Văn K, Lê Hoàng Đức H, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Thị Thu H3, Dương Thị T2, Nguyễn Văn H2, Lý Huỳnh N1; Nguyễn Minh T1 vào ngày 09/3/2024, của Đinh Văn K vào ngày 08/3/2024, của Lê Hoàng Đức H vào ngày 09/3/2024. Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[11] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Phạm T. Hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[12] Đối với chị Phạm Thị M1 không biết được việc Phạm T tổ chức cho các đối tượng sử dụng ma tuý tại nhà thuê của hai vợ chồng nên không có căn cứ để xử lý.

- Về án phí:

[13] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[14] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2024.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,08 gam thực vật khô, vụn cùng vỏ bao gói của mẫu M1 được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 286MT/PC09; 01 đĩa sứ, 01 ống hút kim loại, 01 thẻ nhựa của mẫu M2; 01 cốc kim loại của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon in logo hình con ngựa và chữ “Ferrari” của mẫu M4 và 01 vỏ túi nilon của mẫu M6 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 286MT-A/PC09.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng; 02 loa màu đen, kích thước 16x12x23cm; 01 thiết bị chuyển đổi âm thanh màu đen, nhãn hiệu LDZS, kích thước 16x11x6cm; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu K2MP10D, kích thước 22x16x9cm và 01 thiết bị phát âm thanh màu trắng, kích thước 4x11x0,5cm là công cụ dùng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phạm T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 127/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger