Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và bà Trần Thanh Vân

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Bích Hường, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 09/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024, đối với bị cáo:

BÙI XUÂN TRƯỜNG, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 11 năm 1970, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D và bà Lê Thị M; có vợ là Nguyễn Thị Phương H (đã ly hôn) và có 01 con.

Tiền án: Tại Bản án số 09/2005/HSST ngày 11/3/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 08 năm tù về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 16 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2020.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

- Tại bản án số 17/TA ngày 23/01/1991, bị Toà án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P) xử phạt 18 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản của công dân". Ngày 03/8/2004 đã chấp hành xong án phí.

- Tại bản án số 10 ngày 26/8/1992, bị Toà án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố S) xử phạt 36 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản XHCN". Ngày 15/4/1995 đã chấp hành xong án phí.

- Tại Bản án số 02 ngày 11/3/1997, bị Toà án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố S) xử phạt 36 tháng tù, về tội "Hủy hoại tài sản XHCN". Tháng 9 năm 2004 đã chấp hành xong án phí.

- Tại Quyết định số 1421/QĐ - UB ngày 05/4/2001 UBND tỉnh T ra quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại cơ sở giáo dục T1, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc: Thời hạn 24 tháng, ngày 16/3/2003 hết thời hạn trở về địa phương.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 29/01/2024 đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Tổ công tác của Công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực tổ G, phường T, thành phố T thì phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của Bùi Xuân T 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đó là ma túy H1, T mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực phường T, để sử dụng cho bản thân.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Xuân T có khối lượng 0,338 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng đưa vào bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định.

Tại Bản kết luận số 329 ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,338 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân T khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 29/01/2024, T đi xe buýt từ nhà ở tổ B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đến thành phố T mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, khi đến khu vực cây xăng thuộc tổ G, phường T, thành phố T, T gặp và mua của người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, trường cầm trên tay phải và đi bộ ra đường lớn để bắt xe về, trên đường đi bộ, T gặp tổ công tác của Công an phường T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu (A) bì niêm phong chứa chất ma túy; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng K Công an tỉnh T và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKS-TPTN ngày 07/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Bùi Xuân T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A, A1.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Bùi Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo Bùi Xuân T: Trên cơ sở kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, tại khu vực tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,338 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, T, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Xuân T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền án về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy; có 03 nhân thân đã từng bị xét xử về các tội Trộm cắp tài sản của công dân, tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tội hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa; năm 2001 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng bị Toà án xét xử nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma tuý, không có việc làm, không có thu nhập, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì ký hiệu A, A1 là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu, tiêu huỷ.

[9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, T khai đã mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực phường T, thành phố T. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.
  3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 0,238 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

    Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 159 ngày 15/5/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger