|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 127/2024/HSST Ngày 25 tháng 7 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
2. Bà Bùi Thị Hạnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Đỗ Văn T; Năm sinh: 1987; HKTT: Xóm B, X, X, Nam Định; Nơi ở: Tổ G, cụm B, phường P, B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 5/12; Họ và tên bố: Đỗ Văn B (Sinh năm: 1958); Họ tên mẹ: Đỗ Thị H (Sinh năm: 1961).
- Bản án số 83/HSST ngày 27/03/2008, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 25.09.2009. Đã nộp án phí HSST. Đã xóa án tích.
- Bản án số 308/HSST ngày 30/07/2012, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 09.10.2014. Nộp án phí HSST tại biên lai số 00070 ngày 23/07/2013. Đã xóa án tích.
- Bản án số 66/HSST ngày 28/09/2018, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 14.05.2020. Nộp án phí HSST tại biên lai số 8660 ngày 22/11/2018. Chưa xóa án tích.
- Bản án số 276/HSST ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 30.01.2023. (Ngày phạm tội: 03/06/2021). Chưa xóa án tích.
- Bị cáo: Vũ Đức L; Năm sinh: 1983; HKTT và nơi ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên bố: Vũ Đức M (Sinh năm: 1957); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1 (Sinh năm: 1961); gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Đỗ Thị T1 (Sinh năm 1987); Bị cáo có 03 con, sinh năm 2008, 2010 và 2014.
- Bản án số 73/HSST ngày 22/09/2016, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Hà Nội xử phạt 8 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, buộc Vũ Đức L phải phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 60.000.000đồng. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 3.000.000đ án phí DSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 25.02.2022 (ngày phạm tội 21/02/2024). Nộp án phí HSST và DSST tại biên lai số 0000800 ngày 03/04/2017, đã bồi thường cho đại diện của bị hại số tiền 60 triệu đồng. Chưa xóa án tích.
- Bị cáo: Đặng K; Năm sinh: 1982; HKTT và nơi ở: Thôn C, xã B, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Đặng B1 (Sinh năm: 1951); Họ tên mẹ: Cấn Thị C (Sinh năm: 1950); Họ tên vợ: Nguyễn Thị H2 (Sinh năm 1993); Bị cáo có 02 con, sinh năm 2015 và 2023.
- Bản án số 78/HSST ngày 26/03/2008, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 07.10.2009. Nộp án phí HSST tại biên lai số 9984 ngày 05/08/2008. Đã xóa án tích.
- Bản án số 173/HSST ngày 24/05/2010, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 35 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 17.05.2012. Nộp án phí HSST ngày 03/08/2010. Đã xóa.
- Bản án số 11/HSST ngày 26/02/2019, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày: 16.09.2019. Đã nộp án phí HSST ngày 27/6/2019. Đã xóa án tích.
Tiền án, 01 tiền sự: Năm 2016 Công an quận N, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi vi phạm quy định về quản lý vũ khí.
Tiền án: 04 tiền án:
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Tiền án, tiền sự: 03 tiền án:
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
- Người bị hại:
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 2002; HKTT: Xã A, xã A, huyện M, Hà Nội; Nơi ở: Ngách I ngõ T, B T, H, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa và xin xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Sơn T2, sinh năm 2005; HKTT: Tổ 10 Tập thể In bản đồ, L, Đ, Hà Nội; Nơi ở: Số G ngách A ngõ C T, phường G, T, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Trương Trường G, sinh năm 2005; HKTT: Khu D xã B, H, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: P203 A16 Tập thể N, Cầu G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn T là đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự, không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu sài, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác bằng thủ đoạn đăng thông tin giả, bán xe máy không có giấy tờ với giá rẻ, trên các hội nhóm mạng xã hội Facebook. Khi có người đến mua xe, T sẽ cho xem xe của người khác, rồi yêu cầu bị hại chuyển tiền mua xe trước, sau đó lợi dụng sở hở sẽ bỏ trốn để chiếm đoạt tiền.
Khoảng 12h30' ngày 21/02/2024, Vũ Đức L cùng Đặng K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng BKS: 29V5-696.96 đến nhà T tại tổ G, cụm B, phường P, B, Hà Nội. Tại đây, T khởi xướng việc lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng cách sử dụng xe máy của K để lừa người mua xe và thống nhất sẽ chụp ảnh chiếc xe máy của K để đăng lên mạng xã hội Facebook tìm người mua, sau khi bị hại xem xe và chuyển tiền, T sẽ tạo tình huống bỏ đi, để bị hại phải đi theo, đồng thời báo cho L biết, để L và K lấy xe Honda Wave Alpha màu trắng của K tẩu thoát. K, L đang không có tiền tiêu sài nên đã đồng ý tham gia cùng với T.
Trưa cùng ngày, T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Hoa D” đăng bài bán chiếc xe Honda Wave Alpha BKS: 29V5-696.96 với giá tiền 6.000.000VNĐ trong nhóm “Mua bán xe không giấy tờ Hà Nội”. Tạo đăng bài viết kèm theo số điện thoại của T là 087.664.4xxx để liên hệ. Sau đó, anh Trần Văn C1 (SN: 2007, HKTT: Thôn A, A, M, Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook “Đinh Khắc L1” liên hệ với T hỏi mua xe. Tạo hẹn anh C1 đến xem xe tại địa chỉ: hẻm A phố P, P, B, Hà Nội. Do đang ở xa nên anh Trần Văn C1 nhờ anh ruột là Trần Văn H4 đến mua xe. Khoảng 16h00' cùng ngày, anh H4 gọi điện cho T và được hẹn đến xem xe tại: hẻm A phố P. T và anh H4 thỏa thuận mua bán xe với giá 5.500.000VNĐ. T yêu cầu anh H4 trả tiền mua xe trước, anh H4 đồng ý và chuyển khoản số tiền 5.500.000VNĐ từ tài khoản ngân hàng N1 (A) số 2205281017727, mang tên Trần Văn H4 vào tài khoản Ngân hàng T5 số 0966834560 mang tên Đỗ Văn T.
Sau khi nhận được tiền, T lấy lý do vào nhà lấy chìa khóa xe, bảo anh H4 đứng đợi. Tạo vừa đi bộ vừa gọi điện thoại cho K, báo đã nhận được tiền để K và L vào lấy xe, K hiểu tạo đã lấy được tiền nên ấn từ chối không nghe máy. K nói với L “lấy xe về đi”, K đưa chìa khóa xe máy cho L để L lấy xe. Tạo đi sâu vào trong hẻm C hẻm A phố P, đi nhanh rồi dần bỏ chạy. Anh H4 thấy T bỏ chạy thì đuổi theo. Tạo chạy vòng ra ngõ A A, đi ra ngõ A P thì nhìn thấy L và K lấy được chiếc xe Honda Wave Alpha màu trắng BKS: 29V5 - 696.96. Cả ba đi xe đến cây ATM trên phố H để rút số tiền vừa chiếm đoạt được. Tạo rút số tiền 2.000.000VNĐ từ tài khoản Ngân hàng T5, đưa cho anh L và K, mỗi người 1.000.000VNĐ, sau đó L và K bỏ đi, số tiền còn lại T đã tiêu sài cá nhân hết. Anh H4 sau khi đuổi theo T mất dấu, quay về vị trí để xe thì không còn thấy xe máy Honda Wave Alpha đâu nữa. Ngày 02/4/2024, anh H4 đến Công an phường P để trình báo sự việc.
Bằng phương thức thủ đoạn trên, Đỗ Văn T đã một mình thực hiện 01 vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác tại phường P, quận B. Cụ thể như sau:
Sáng ngày 24/03/2024, Đỗ Văn T nhìn thấy 01 chiếc xe máy Honda Sh, màu xanh BKS: 29C1-976.72 của anh Nguyễn Xuân T3 (SN: 1975; trú tại: Tổ G, cụm B P, B, Hà Nội) dựng trước hẻm S hẻm A phố P (gần nhà T). Tạo nảy sinh ý định sử dụng chiếc xe trên để chiếm đoạt tài sản nên đã chụp ảnh chiếc xe này, sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Hoa D” đăng bài bán xe trong nhóm “Mua bán xe không giấy tờ Hà Nội”, T chuẩn bị 01 con dao dài khoảng 30cm lấy từ trong bếp của nhà T mang đi để phòng thân. Đến chiều cùng ngày, anh Trương Trường G (SN: 2005, HKTT: Khu D, B, H, Phú Thọ) nhắn tin qua Facebook cho T, cả hai thỏa thuận giá mua bán xe là 16.000.000VNĐ. Đến khoảng 22h00' cùng ngày, anh G đến, T dẫn anh G đến chỗ dựng chiếc xe máy Honda Sh để xem xe. Khi gặp anh G, T đã để sẵn con dao vào thắt lưng. Tạo dẫn anh G đến chỗ dựng chiếc xe máy Honda SH màu xanh BKS: 29C1 - 976.72 để xem xe. Tuy nhiên, anh G không có tiền để mua, gọi điện thoại cho mẹ để xin tiền, gọi điện cho bạn bè để hỏi vay tiền nhưng không được. Anh G đề nghị bán chiếc điện thoại iPhone đang sử dụng cho T. T gọi cho một người làm xe ôm vào để mua, nhưng người này xác định là điện thoại Trung quốc nên không mua. Khi T và anh G ngồi ở trước số A phố P, T nói: “Mày phải xoay cho tao 3 - 5 triệu thì tao bán xe cho”. Sau đó, T lấy con dao đã chuẩn bị ra, để ra trước mặt nhưng T không nói gì.
Đến khoảng 23h00' cùng ngày, anh G liên lạc với Nguyễn Sơn T2 (SN: 2005, HKTT: TT In bản đồ L, Đ, Hà Nội) để nhờ T2 đến đón anh G. Khoảng 0h00 ngày 25/03/2024, anh T2 một mình điều khiển xe máy Honda Wave Alpha BKS: 29E2-67964 đến bến xe buýt L thì gặp anh G và T. Anh G nói với anh T2 sẽ cầm cố xe của anh T2 cho T để lấy xe máy Sh của T mang về, ngày hôm sau đưa tiền lên chuộc lại xe của anh T2 sau. Anh T2 đồng ý. T nói sẽ điều khiển xe chở T2 và G ngồi sau về lấy xe máy SH. Khi đi đến trước số A hẻm A P, T nói T2 và G xuống đợi để T về nhà lấy chìa khóa. Khi anh G và anh T2 xuống xe, T đã điều khiển xe của anh T2 tẩu thoát. Sáng ngày 26/03/2024, T đăng bài lên hội nhóm Facebook “Mua xe không giấy tờ Hà Nội” với nội dung “Cần cầm xe Wave không giấy”, sau đó có một số người bình luận, T đã chọn một người ibox riêng (không nhớ cụ thể) và hẹn bán xe tại ngách H ngõ C X, quận B, Hà Nội với giá 3.000.000đ. Ngày 26/3/2024, anh T2, anh G đến Công an phường P để trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Đặng K: 01 xe máy honda Wave& màu trắng BKS: 29V5-696.96 và 1.000.000 đồng tiền Việt Nam.
Thu giữ của Đỗ Văn T:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, số Imei: 353269074007554, số sim: 0966834560 đã qua sử dụng.
- 01 con dao dài khoảng 35cm, bản rộng 4cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng đã qua sử dụng.
- 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xám đã qua sử dụng.
Thu giữ của anh Đỗ Thanh T4 - CSKV - đại diện cơ quan Công an phường P:
- 01 (một) USB, bên trong chứa 02 đoạn video Clip trích xuất từ camera giám sát hồi 16h14' ngày 21/02/2024, tại địa bàn tổ G cụm B P, B, Hà Nội.
Thu giữ của chị Đỗ Thị T1 (là vợ của Vũ Đức L): 1.000.000đồng (một triệu đồng) (BL : 502).
Thu giữ của bà Đỗ Thị H (là mẹ đẻ của Đỗ Văn T): 3.500.000đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng chẵn) ;
- 01 giấy biên nhận của anh Nguyễn Sơn T2 ghi ngày 19/4/2024 đã nhận 8.000.000đ tiền bồi thường chiếc xe máy Honda Wave màu trắng cho anh T2.
Vật chứng không thu hồi được : 01 xe máy Honda Wave màu đen bạc, BKS : 29E2 - 679.69.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG-HĐĐGTS ngày 09 tháng 04 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận :
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS : 29E2 – 679.69, SM: JA39E1573571, SK: 3917LY235726 đã qua sử dụng, có trị giá 8.000.000đồng (tám triệu đồng chẵn).
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Trần Văn H4 số tiền 5.500.000đồng, anh H4 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.
Về dân sự: Bà Đỗ Thị H (là mẹ đẻ của Đỗ Văn T) đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Sơn T2 số tiền 8.000.000đồng (trị giá chiếc xe máy bị chiếm đoạt hiện chưa thu hồi được). Anh T2 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã: Truy tố Đỗ Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015; Truy tố bị cáo Vũ Đức L và bị cáo Đặng K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Đỗ Văn T, Vũ Đức L, Đặng K theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 04 năm đến 05 năm tù; Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, xử phạt bị cáo Vũ Đức L mức án từ 24 đến 30 tháng tù; Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, xử phạt bị cáo Đặng K mức án từ 20 đến 26 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Văn H4 và anh Nguyễn Sơn T2 đã nhận đủ tiền bồi thường, không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 điện thọai di động Iphone 6s, màu hồng, số Imei 353269074007554, số sim 0966834560 thu giữ của bị cáo T;
- Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng biển kiểm soát 29V5-69696, số máy JA39E2957545, số khung RLHJA3929NY501565 thu giữ của bị cáo K;
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 35cm, bản rộng 4cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng và 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xám.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và trong lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ điều quan tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, các bị cáo Đỗ Văn T cùng Vũ Đức L và Đặng K đã có hành vi lừa bán chiếc xe máy Honda Wave Alpha BKS: 29V5-696.96 không giấy tờ cho anh Trần Văn C1. Do anh C1 đang ở xa nên anh C1 có nhờ anh ruột của mình là Trần Văn H4 đến xem xe. Sau khi xem xe, T yêu cầu anh H4 phải trả tiền mua xe trước. Sau khi nhận được số tiền 5.500.000đồng từ anh Trần Văn H4, T đã lấy lý do vào nhà lấy chìa khóa xe bảo anh H4 đợi và gọi điện thoại cho K, báo đã nhận được tiền để K và L vào lấy xe. Các bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 5.500.000 đồng của anh Trần Văn H4.
Ngoài ra, khoảng 00 giờ ngày 25/3/2024, bị cáo Đỗ Văn T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS: 29E2-67964 của anh Nguyễn Sơn T2 có giá trị 8.000.000đồng.
Các bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ vào thời điểm phạm tội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo Vũ Đức L, Đặng Khánh đ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại bản án số 276/2021/HSST ngày 29/11/2021 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xác định bị cáo Đỗ Văn T thuộc trường hợp tái phạm do tiền án của bị cáo theo bản án số 66/2018/HSST ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội của bị cáo Đỗ Văn T thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Văn T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bản Cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Văn T có 04 tiền án, bị cáo Vũ Đức L có 01 tiền án chưa được xóa. Bị cáo Đặng K có 03 tiền án đã được xóa thể hiện các bị cáo đều đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng, cải tạo mình mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo T phạm tội 2 lần, đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lần phạm tội này của bị cáo L được xác định tái phạm theo quy định của điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS do bản án số 73/HSST ngày 22/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất chưa được xóa.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt và đã có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B về mức hình phạt, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thọai di động Iphone 6s, màu hồng, số Imei 353269074007554, số sim 0966834560 thu giữ của bị cáo T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng biển kiểm soát 29V5-69696, số máy JA39E2957545, sô khung RLHJA3929NY501565 thu giữ của bị cáo K là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 con dao dài khoảng 35cm, bản rộng 4cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng và 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xám cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đức L;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng K;
- Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Văn T, Vũ Đức L và Đặng K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T 40 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2024.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thọa di động Iphone 6s, màu hồng, số Imei 353269074007554, số sim 0966834560 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng biển kiểm soát 29V5-69696, số máy JA39E2957545, sô khung RLHJA3929NY501565;
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 35cm, bản rộng 4cm, chuôi dao màu đen, lưỡi dao màu trắng và 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xám.
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản giao vật chứng số 172 ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Các cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 127/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 127/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Đỗ Văn T, Vũ Đức L và Đặng K
