Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 24 -9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Quang Minh
  • 2. Ông Lò Văn Chiên
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phàn San M; giới tính: Nữ; sinh năm 1950; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản T, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Phàn Vần V, đã chết và con bà Tẩn Lở M1, đã chết; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Tẩn S, đã chết; con: có 04 con, con lớn nhất đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/6/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị L - Luật sư ký hợp đồng tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ một ngày đầu tháng 6/2024, Phàn San M, sinh ngày 12/02/1950 đang ở nhà tại bản T, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu thì có một người đàn ông dân tộc Hà Nhì không rõ lai lịch đến nhà. Người đàn ông đó hỏi M có mua ma tuý không, do thường xuyên bị đau bụng nên M mua của người đàn ông 06 gói Heroine (đều gói bằng mảnh nilon màu hồng) giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Những ngày sau, M nhiều lần lấy Heroine trong 01 gói ra sử dụng và đã sử dụng hết; 05 gói Heroine còn lại M gói chung bên ngoài bằng một mảnh nilon màu hồng và một mảnh giấy màu trắng. Mẩy cất giấu 05 gói Heroine trong rổ treo trên tường nhà, không cho ai biết. Hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, Phàn San M đang ở nhà tại bản T, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu thì Đồn Biên phòng V1, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, M tự lấy 05 gói Heroine giao nộp cho lực lượng Bộ đội Biên phòng. Cùng ngày, Đồn Biên phòng V1 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của M, quá trình khám xét không thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 689 ngày 09/6/2024 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh L kết luận: số chất bột, màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng 1,96 gam, là ma túy; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Phàn San M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 81/KLĐT ngày 30/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và đề áp dụng án phí hình theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đồng quan điểm về tội danh đối với Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự vì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người trên 70 tuổi; sức khỏe hiện tại yếu do đã phải phẫu thuật mổ khối u; là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật rất hạn chế.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trinh tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại bản T, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu, Phàn San M đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 05 gói Heroine có tổng khối lượng 1,96 gam, mục đích để sử dụng thì bị V1, Bộ đội Biên phòng tỉnh L bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy đã lâu nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, H).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người trên 70 tuổi; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận

3

thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo tàng trữ 1,96 gam Heroin, thời gian nghiện ma túy đã lâu nên cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp, đã già yếu. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 1,96 gam Heroine thu giữ của Phàn San M, Đồn Biên phòng Vàng Ma C đã trích 0,58 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 1,38 gam Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng, 06 mảnh nilon màu hồng là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, Phàn San M khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là người già nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, o khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-

4

12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn San M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù, trừ 09 ngày tạm giữ, còn lại 01 (Một) năm 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,38 gam Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng, 06 mảnh nilon màu hồng
    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 24/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

5

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

8

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

9

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký, ghĩ rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phàn San M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger