Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 24/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị An

Bà Trần Thị Đông

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/TLST-HS ngày 06/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024, đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tại Thanh Hoá. Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Văn H; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; D chỉ bản số 334 lập ngày 08/4/2024 của Công an huyện Đ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 12/HSPT ngày 14/02/2012, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Đã được xóa án tích); Bắt tạm giam: Từ ngày 08/4/2024 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Có mặt.

* Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Tùng T1:

  1. Bà Vũ Thị S, sinh năm 1953; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội (Vợ ông T1).
  2. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội (Con ông T1).
  3. Chị Nguyễn Thị Mai A1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: A, phường M, quận C, thành phố Hà Nội (Con ông T1).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thi S1 và chị Nguyễn Thị Mai A1: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 26/11/2023, Nguyễn Văn T (Sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa) không có Giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô BKS 29V1-095.61, lưu thông trên cầu vượt V, chiều từ cầu T đi cầu Đông Trù. Đến đoạn cột đèn DB5-L2/8 thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T điều khiển xe không chú ý quan sát dẫn đến va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tùng T1 (Sinh năm 1948, nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội) điều khiển, lưu thông phía trước cùng chiều.

Hậu quả: Ông Nguyễn Tùng T1 bị thương, được đưa đến Bệnh viện H2 cấp cứu. Do thương tích nặng, đại diện gia đình ông T1 xin ông T1 về nhà và ông T1 đã tử vong ngày 30/11/2023.

Kết quả khám nghiệm và dựng lại hiện trường xác định:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường đôi, mặt đường trải nhựa, phẳng; phần đường bên phải, chiều đường C hướng cầu Đ rộng 22,6m, được chia thành 05 làn đường xe chạy bằng vạch sơn đứt nét và liền nét màu trắng, làn đường trong cùng bên phải rộng 6,9m. Lấy mép đường bên phải, chiều từ cầu T đi cầu Đông Trù làm chuẩn:

Xe mô tô BKS 29V1-095.61 đồ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng cầu Đ; tâm trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 0,9m và cách cột đèn DB5-L2/8 là 0,5m, tâm trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 1,25m. Xe mô tô đổ để lại trên mặt đường vết cày trượt KT (3,6x0,01)m, đầu vết cách mép đường làm chuẩn 2,3m, cuối vết cách mép đường làm chuẩn 1,2m và trùng với giá để chân trước bên trái xe môtô BKS 29V1-095.61.

Mặt đường để lại vùng chất màu đỏ (dạng máu) KT(0,8x0,7)m, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 3,4m và cách cột đèn DB5-L2/8 là 2,9m. Nguyễn Văn T xác định nạn nhân Nguyễn Tùng T1 ngã trên mặt đường, trùng với vị trí vùng chất màu đỏ (dạng máu).

Nguyễn Văn T xác định xe đạp đổ nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe hướng cầu Đ, tâm trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 0,7m, tâm trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 1,05m và cách cột đèn DB5-L2/8 là 4,1m.

Tiến hành khám dấu vết phương tiện và trưng cầu giám định dấu vết trên xe mô tô biển số 29V1-095.61 và xe đạp. Tại bản kết luận giám định số 444/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của V, Bộ C, kết luận:

  1. Cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết trên xe môtô biển số 29V1-095.61 và xe đạp.
    • Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 29V1-095.61 và xe đạp: Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu trục trước bên trái xe môtô biển số 29V1-095.61 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng ở mặt ngoài củ đề phía sau bên phải xe đạp. Dấu vết va chạm ở xe đạp nêu trên tại vị trí này có chiều từ sau về trước.
    • Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía dưới yếm chắn gió bên trái xe mô tô biển số 29V1-095.61 có chiều từ trước về sau. Dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với vật có màu đen.
      • - Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài bên trái ốp nhựa đầu xe, ốp nhựa đèn xin đường phía trước, đầu tay lái, lõi kim loại bàn để chân trước, ốp nhựa sườn xe, tay nâng phía sau bên trái xe mô tô biển số 29V1- 095.61 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường.
      • - Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài càng bánh trước, đầu tay nắm tay lái bên phải có chiều từ trước về sau và dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu bàn đạp bên phải xe đạp có chiều từ ngoài vào tâm trục bàn đạp. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường.
      • - Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ ở mặt ngoài khung bên trái xe đạp có chiều từ trước về sau. Dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với vật cứng có màu đỏ.
    • Các dấu vết còn lại ở xe mô tô biển số 29V1- 095.61 và xe đạp được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an huyện Đ hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.
  2. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 29V1- 095.61 và xe đạp khi xảy ra tai nạn.
  3. Vị trí va chạm trên mặt đường tại hiện trường giữa xe mô tô biển số 29V1-095.61 và xe đạp nằm ở làn đường rộng 6,9m của phần đường theo chiều cầu T đi cầu Đông Trù trên cầu vượt V.
  4. Không xác định được cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết số 4 được ghi nhận trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường.

Kỹ thuật an toàn phương tiện xe mô tô BKS 29V1-095.61 và xe đạp: Hệ thống phanh tác dụng.

Ngày 30/11/2023, ông Nguyễn Tùng T1 tử vong tại nhà, gia đình ông T1 không báo cho Cơ quan điều tra để tiến hành pháp y tử thi đối với ông T1. Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm P1 giám định qua hồ sơ bệnh án đối với thương tích của ông Nguyễn Tùng T1. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ bệnh án số 193/KLTgTHS- TTPY ngày 22/02/2024 của Trung tâm P1, kết luận:

  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể qua hồ sơ của ông Nguyễn Tùng T1 tại thời điểm ra viện là 99% (chín mươi chín phần trăm).
  • Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, vật tày có cạnh gây nên.
  • Chấn thương sọ não nặng của ông T1 được thể hiện trong hồ sơ bệnh án, đã được phẫu thuật xử lý tổn thương, điều trị hồi sức tích cực, tình trạng không cải thiện, tiên lượng nặng, nguy cơ tử vong.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, T điều khiển xe mô tô BKS: 29V1 - 095.61 lưu thông trên đường H, chiều K hướng cầu Đ. Khi đi đến cầu vượt V với vận tốc khoảng 40km/h. Lúc này, T thấy phía trước cùng chiều có 01 xe đạp (không xác định được người điều khiển) đang lưu thông, do T đi quá gần nên đầu xe mô tô va chạm vào phía sau bên phải hộp xích của xe đạp. Sau khi va chạm, xe mô tô đổ nghiêng trái, đè lên chân trái của T, xe đạp đổ về phía trước, lúc này T thấy người điều khiển xe đạp là một ông cụ ngã ngửa trên mặt đường, đầu hướng mép đường bên phải, chân hướng mép đường bên trái.

Căn cứ vào sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản khám dấu vết phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định trên hồ sơ bệnh án, kết luận giám định dấu vết, lời khai người làm chứng và lời khai của Nguyễn Văn T thì nguyên nhân chính xảy ra tai nạn là do Nguyễn Văn T trong khí thở có nồng độ cồn 0,363mg/L khí thở và Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe môtô, điều khiển xe môtô không chú ý quan sát gây tai nạn, vi phạm khoản 8, khoản 9 và khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Ông Nguyễn Tùng T1 không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên.

Đối với xe mô tô BKS 29V1-095.61 đăng ký mang tên Nguyễn Đắc M (Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội). Tháng 11 năm 2023, anh M cho anh Nguyễn Tiên P (sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội) mượn xe mô tô BKS 29V1-095.61. Sáng ngày 26/11/2023, anh P đi làm tại công trình để xe mô tô BKS 29V1-095.61 tại xưởng (Địa chỉ: A L, quận T, thành phố Hà Nội), chìa khoá cắm ổ khoá. Anh P không biết việc T điều khiển xe mô tô BKS 29V1-095.61 và liên quan tai nạn. Xe mô tô BKS 29V1-095.61 không tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Xe đạp là tài sản của ông Nguyễn Tùng T1.

Ngày 22/3/2024, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu: Trả xe mô tô BKS 29V1-095.61 cho anh Nguyễn Đắc M; trả xe đạp cho gia đình nạn nhân Nguyễn Tùng T1.

Phần dân sự: Nguyễn Văn T đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Tùng T1 130.000.000 đồng. Gia đình ông Nguyễn Tùng T1 nhận tiền, xin tự chịu thiệt hại đối với xe đạp và có đơn đề nghị miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Đắc M xin tự chịu đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 29V1-095.61.

Tại Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng và xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • Đại diện hợp pháp của bị hại xác định đã nhận số tiền 130.000.000 do bị cáo bồi thường và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    • Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2024.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
    • Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận, giải quyết xong nên không phải đặt ra giải quyết.
    • Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23/5/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 29V1-095.61 khi không có giấy phép lái xe mô tô và trong khí thở có nồng độ cồn 0,363mg/L khí thở lưu thông trên cầu vượt V, chiều từ cầu T đi cầu Đông Trù, đến đoạn cột đèn DB5-L2/8 thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T điều khiển xe không chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách giữa các xe đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tùng T1 điều khiển đi phía trước cùng chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả, làm ông Nguyễn Tùng T1 bị thương, được đưa đến Bệnh viện cấp cứu, do thương tích nặng, gia đình ông T1 đã đưa ông T1 về nhà và ông T1 đã tử vong ngày 30/11/2023. Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 8, khoản 9, khoản 23 Điều 8 và Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, đã cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định;
  • Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định;

..."

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ và gây tâm lý lo sợ cho người tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do không chấp hành đúng quy định pháp luật về giao thông đường bộ nên đã phạm tội. Hậu quả của hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ do bị cáo gây chết người là rất nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, bị hại không có lỗi. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội xâm phạm nói chung.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mong muốn được sửa chữa lỗi lầm; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 14/02/2012, đã bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nhưng hậu quả do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, trọng vụ án này lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về loại Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và hiện nay tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng trên địa bàn huyện Đ có chiều hướng gia tăng nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự: "Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm". Xét thấy, bị cáo không hành nghề lái xe nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại xác định đã được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 130.000.000 đồng và không còn yêu cầu gì thêm về phần bồi thường thiệt hại. Như vậy, các bên đã tự giải quyết xong về phần bồi thường thiệt hại có trong vụ án và không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án không phải đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô mô tô BKS 29V1-095.61 đã được trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Đắc M, trong quá trình điều tra không xác định về trị giá thiệt hại đối với chiếc xe mô tô trên do anh Nguyễn Đắc M xin tự chịu đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 29V1-095.61 nên Toà án không phải giải quyết và cũng không đưa anh Nguyễn Đắc M vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[6]. Về bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Xe mô tô mô tô BKS 29V1-095.61 không tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

  1. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt: Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2024.
  2. Về án phí sơ thẩm:
    • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
    • Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND H. Đông Anh;
  • - Trại tạm giam;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự,
  • - Chi cục THADS H. Đông Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23/5/2023, Nguyễn Văn Tài điều khiển xe mô tô BKS 29V1- 095.61 khi không có giấy phép lái xe mô tô và trong khí thở có nồng độ cồn 0,363mg/L khí thở lưu thông trên cầu vượt Vĩnh Ngọc, chiều từ cầu Thăng Long đi cầu Đông Trù, đến đoạn cột đèn DB5-L2/8 thuộc địa phận thôn Ngọc Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Tài điều khiển xe không chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách giữa các xe đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tùng Tạo điều khiển đi phía trước cùng chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả, làm ông Nguyễn Tùng Tạo bị thương, được đưa đến Bệnh viện cấp cứu, do thương tích nặng, gia đình ông Tạo đã đưa ông Tạo về nhà và ông Tạo đã tử vong ngày 30/11/2023. Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 8, khoản 9, khoản 23 Điều 8 và Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, đã cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger