Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 415/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 558/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Phạm Xuân T, sinh năm 1980, tại tỉnh Nghệ An. Thường trú: xóm G, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; vợ Kiều Thị T1, sinh năm 1984; bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: không.

- Tiền án: ngày 25/6/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 53/2010/HS-ST, bị cáo chưa nộp 3.000.000 đồng hình phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

  • + Ngày 28/7/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 16/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/10/2000 và đã thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Ngày 17/7/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 223/2012/HS-ST. Tổng hợp chung hình phạt của Bản án số 53/2010/HSST ngày 25/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng và Bản án số 223/2012/HSST ngày 17/7/2012 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương buộc bị cáo chấp hành 08 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/11/2012 và thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Ngày 15/12/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (T30), Công an Thành phố H. Bị cáo có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Bà Kiều Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  • 1. Ông Đỗ Gia T2, sinh năm 1972, vắng mặt.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1976, vắng mặt.
  • 3. Bà Kiều Thị H1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 11/2020, bị cáo Phạm Xuân T sinh sống tại phòng số 1, nhà T, số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình đi uống cà phê bị cáo T tình cờ gặp và quen biết một đối tượng tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch), trong lúc nói chuyện thì T có kể cho H2 nghe về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân phải đi buôn bán gà thịt để kiếm tiền nuôi vợ và 03 con nhỏ. Nghe vậy, H2 rủ T đi giao ma túy cho H2 và sẽ trả tiền công nên T đồng ý. T có dẫn H2 đi ngang phòng trọ để H2 biết chỗ. Đến khoảng 14 giờ ngày 07/12/2022, H2 đi xe máy đến phòng trọ đưa 04 bánh ma túy cho T để đi giao cho khách, 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia đời cũ (loại bàn phím) bên trong có lắp sẵn sim điện thoại, ngoài ra H2 còn đưa T 01 túi nylon, bên trong đựng 01 hộp nhựa màu đen, bên trong hộp nhựa là 01 khẩu súng ngắn cùng 50 viên đạn, nhờ T cất giữ giùm, khoảng 01 đến 02 ngày sau H2 sẽ đến lấy. T sử dụng túi vải màu đỏ quấn súng, đạn lại và mang lên gác cất giấu. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày có người đàn ông lạ gọi điện thoại vào số máy có sẵn trong điện thoại do H2 đưa, kêu T mang 02 bánh ma túy đến giao cho Dương Văn Q tại quán M ở khu phố T, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để đi bán cho người khác. Sau khi nghe điện thoại và giao ma túy cho Q xong, trên đường về sợ bị phát hiện nên T đã ném bỏ máy điện thoại do H2 đưa ở dọc đường (không nhớ ném ở đoạn đường nào). Đến 20 giờ cùng ngày, Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Dương Văn Q đang mang ma túy đi bán tại trước nhà số F, P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua điều tra, xác minh Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp Công an phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ của Phạm Xuân T thì phát hiện thêm 02 bánh ma túy, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của T thì phát hiện và thu giữ:

  • - 01 (một) hộp nhựa màu đen có in chữ KUZEY bên trong có 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, xám có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993”, 01 (một) hộp tiếp đạn bằng kim loại màu đen và 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 06 (sáu) viên đạn bằng kim loại, màu vàng.
  • - 01 (một) bịch nylon màu đen bên trong có 01 (một) gói giấy bạc bọc 01 (một) hộp giấy có in chữ THAI ARMS 380 bên trong có 44 (bốn mươi bốn) viên đạn bằng kim loại màu vàng.

Tại Kết luận giám định số 7263/KL-KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

  • - Khẩu súng ngắn màu đen, xám có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993", 01 (một) hộp tiếp đạn bằng kim loại màu đen là loại súng bắn đạn cao su nhưng được chế lại để bắn đạn quân dụng cỡ 8mm, súng do Thổ Nhĩ K sản xuất, còn đầy đủ bộ phận, hoạt động bình thường, bắn được đạn nổ, khẩu súng ngắn gửi giám định thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
  • - 50 (năm mươi) viên đạn bằng kim loại màu vàng gửi giám định thuộc nhóm vũ khí quân dụng, sử dụng cho súng quân dụng, súng tự chế có cỡ nòng và buồng đạn phù hợp với loại đạn này, mỗi viên đạn có trọng lượng 9,6 gam, do Thái Lan sản xuất.

Việc thu giữ vật chứng và xử lý:

  • Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, xám có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993”. Ngày 31/8/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã bàn giao vật chứng cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B theo quy định.
  • Đối với 50 viên đạn bằng kim loại màu vàng. Phòng PC09 – Công an Thành phố H đã sử dụng 02 viên để bắn thực nghiệm, 48 viên đạn còn lại lưu giữ tại phòng PC09 – Công an Thành phố H để phục vụ công tác giám định theo Kết luận giám định số 7263/KL-KTHS ngày 16/12/2022.

Tại Cáo trạng số 197/CT-VKSBD-P1 ngày 17 tháng 11 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Xuân T với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo thẩm quyền đối với 01 khẩu súng ngắn có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993” và giao cho Công an Thành phố H xử lý theo thẩm quyền đối với 48 viên đạn.

Bị cáo Phạm Xuân T có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: Bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Phạm Xuân T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị cáo T.

[3] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 40 ngày 07/12/2022, tại phòng số 01, nhà T, số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Phạm Xuân T có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng ngắn màu đen, xám có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993", 01 hộp tiếp đạn bằng kim loại màu đen là loại súng bắn đạn cao su nhưng được chế lại để bắn đạn quân dụng cỡ 8mm, còn đầy đủ bộ phận, hoạt động bình thường, bắn được đạn nổ, giám định thuộc nhóm vũ khí quân dụng và 50 viên đạn bằng kim loại màu vàng thuộc nhóm vũ khí quân dụng thì bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành khám xét phát hiện và thu giữ. Hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng (01 khẩu súng và 50 viên đạn) của bị cáo Phạm Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Bị cáo đã bị Tòa án nhiều lần xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Đánh bạc” nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo lại tiếp tục có hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Ngoài ra, hiện nay bị cáo đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H khởi tố điều tra về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/6/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 53/2010/HS-ST nhưng bị cáo chưa nộp 3.000.000 đồng hình phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đến ngày 07/12/2022, bị cáo tiếp tục thực hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha là ông Phạm Xuân N được Nhà nước công nhận là liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Campuchia nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, xám có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993”. Ngày 31/8/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã bàn giao vật chứng cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B xử lý theo quy định là đúng theo quy định của pháp luật.
  • Đối với 50 (năm mươi) viên đạn bằng kim loại màu vàng. Phòng PC09 – Công an Thành phố H đã sử dụng 02 viên để bắn thực nghiệm, 48 viên đạn còn lại lưu giữ tại phòng PC09 – Công an Thành phố H. Vì vậy, cần giao cho Công an Thành phố H xử lý theo thẩm quyền đối với 48 viên đạn còn lại.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo thẩm quyền: 01 (một) khẩu súng ngắn có in chữ “K4YKZG1YS01-2104993” (Theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 31/8/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B).
  • - Giao cho Công an Thành phố H xử lý theo thẩm quyền: 48 viên đạn (Theo Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 08/12/2022 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với Công an Thành phố H).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger