|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 127/2024/HS-ST Ngày 23-09-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 9 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn H, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1982 tại Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn V và bà Hoàng Thị K; có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Kim C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số G T, tổ A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, đã chết.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1976; anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2004, chị Nguyễn Phương T1, sinh năm 2001; đều cư trú tại: Số G T, tổ A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2004; cư trú tại: Số G T, tổ A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 22/5/2024, Đỗ Văn H là lái xe của Công ty cổ phần T2 (viết tắt là Công ty T2) có trụ sở tại xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng điều khiển ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746 kéo theo sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 chở hàng tôn tấm từ huyện Đ, thành phố Hà Nội về giao cho Công ty H2 ở địa chỉ số A Quán T, phường Đ, quận K. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe về đến Công ty H2, H dừng xe ở bên phải lòng đường Quán Trữ (chiều từ đường T đi cầu B), rồi xuống xe đi bộ về phía cổng Công ty H2 thì thấy cổng đóng, không thấy bảo vệ Công ty. H quay lại cabin ôtô, điều khiển phương tiện lùi lại khoảng 10m (trước các số nhà B, 226 đường Q) rồi cho xe đỗ chiếm một phần đường Q. Sau đó, H tắt động cơ xe, tắt đèn chiếu sáng và ngồi trên cabin ôtô đầu kéo, không đặt biển cảnh báo nguy hiểm phía trước và phía sau xe. Đến khoảng 21 giờ 36 phút cùng ngày, anh Nguyễn Kim C, sinh năm 1972; trú tại: số G T, tổ A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, Biển kiểm soát 15N1-31289 di chuyển theo hướng đường T đi cầu Bùi V1 đã đâm vào phía sau bên trái sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731. Hậu quả, xe môtô Biển kiểm soát 15N1-312.89 do anh C điều khiển đổ trượt ra đường, anh Nguyễn Kim C tử vong tại chỗ; các phương tiện bị hư hỏng. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành thụ lý vụ việc để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định tử thi số 152/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 13/6/2024 của Trung tâm P, kết luận: “nạn nhân Nguyễn Kim C chết vì đa chấn thương, chấn thương sọ não nặng”.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông được xác định là đoạn đi qua các số nhà 224, 226, đường Q, thuộc phường Đ, quận K là đoạn đường cong về bên trái theo chiều từ đường T đi cầu Bùi Viện. Mặt đường trải nhựa asphalt bằng phẳng rộng 09m, được tổ chức giao thông theo “đường hai chiều”, ở giữa không có dải phân cách, không có vạch sơn chia chiều đường. Đoạn xảy ra tai nạn, hai bên có vỉa hè bằng bê tông, có hệ thống đèn chiếu sáng, không có đèn tín hiệu, biển báo giao thông. Trên hiện trường ghi nhận các dấu vết gồm: dấu vết thứ nhất là dấu vết máu có kích thước 30x30cm; dấu vết thứ hai là xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, Biển kiểm soát 15N1-31289 đổ nghiêng trái, đầu xe hướng về phía cầu B, đuôi xe hướng về đường T, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 3,2m, cách mốc cố định 6,3m. Dấu vết thứ ba là xe ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746 kéo theo sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 đỗ song song với đường Q, phần đầu xe ôtô đầu kéo hướng về phía cầu B, phần đuôi sơ mi rơ mooc hướng về đường T, mặt ngoài lốp bánh xe phía ngoài bên phải (bên phụ) hàng bánh số 3 của sơ mi rơ mooc cách mép đường chuẩn 0,67m. Mặt ngoài lốp bánh xe phía ngoài bên trái (bên lái) hàng bánh số 3 của sơ mi rơmooc cách mép đường chuẩn 3,1m. Phần gần nhất của mặt ngoài lốp bánh xe phía ngoài bên phải (bên phụ) hàng bánh số 1 của ô tô đầu kéo cách mép đường chuẩn 0,73m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện: Đối với xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746, không phát hiện dấu vết, hư hỏng gì, đối với sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 ghi nhận 04 dấu vết hư hỏng ở vị trí phía sau bên trái. Đối với xe môtô Biển kiểm soát 15N1-31289 ghi nhận 12 dấu vết hư hỏng chủ yếu ở phần đầu và thân xe.
Kết luận giám định số 1772/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: dấu vết nứt vỡ kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt trước càng giảm xóc bánh trước bên phải xe môtô mang Biển kiểm soát 15N1-31289, phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước ở mặt sau bên trái (bên lái) cản sau sơ mi rơmooc mang Biển kiểm soát 15R-10731, kéo phía sau xe ôtô mang Biển kiểm soát 15C-19746.
Kết luận giám định hoá pháp số 1131/PY-XNĐH ngày 06/6/2024 của V2 kết luận: “tìm thấy E trong mẫu máu Nguyễn Kim C, nồng độ 304,7mg/100ml máu”.
Tại bản Cáo trạng số 133/CT-VKSKA ngày 09 tháng 09 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn H: 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại là anh Nguyễn Kim C không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, giải quyết về bồi thường dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 34 phút ngày 22/5/2024, Đỗ Văn H có giấy phép lái xe theo quy định đã đỗ xe ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746 kéo sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 tại đoạn đường cong, chiếm một phần đường xe chạy, không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết; khi đỗ bánh xe gần nhất cách lề đường 0,67m, vi phạm điểm d khoản 3 Điều 18, điểm b khoản 4 Điều 18, khoản 1 Điều 19 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến anh Nguyễn Kim C điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15N1-31289 va chạm vào phía sau bên trái rơmooc, hậu quả làm anh C tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Đỗ Văn H có giấy phép lái xe theo quy định đã đỗ xe ôtô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746 kéo sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 tại đoạn đường cong, chiếm một phần đường xe chạy, không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết; khi đỗ bánh xe gần nhất cách lề đường 0,67m, vi phạm điểm d khoản 3 Điều 18, điểm b khoản 4 Điều 18, khoản 1 Điều 19 Luật Giao thông đường bộ nên hành vi của bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông có kết quả xét nghiệm có nồng độ Ethanol 304,7mg/100ml máu. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, tuy nhiên xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị hại cũng có lỗi. Mặt khác, bị cáo lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng; nhân thân bị cáo tốt, chưa tiền án, tiền sự; người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có đơn trình bày có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi 2 con nhỏ, hiện công ty đang tạm thời cho bị cáo nghỉ việc.
Xét bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét, giải quyết về bồi thường dân sự.
Đối với chiếc xe mô tô 15N1-31289 cơ quan công an đã trả lại cho đại diện gia đình nạn nhân C và gia đình anh C là anh H1 không có ý kiến gì nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
[10] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Về các nội dung khác:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã trả lại chiếc xe mô tô 15N1-31289 cho đại diện gia đình nạn nhân C và gia đình anh C không có ý kiến gì; trả lại 01 xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 15C-19746 kéo theo sơ mi rơmooc Biển kiểm soát 15R-10731 cùng toàn bộ giấy tờ xe cho Công ty T2 và trả lại 01 Giấy phép lái xe ôtô hạng FC cho bị cáo H là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 127/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
