|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2023/HSST. |
|
|
Ngày: 21/12/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh, ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đàm Hoàng Sơn - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2023/HSST, ngày 17 tháng 11 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Nhật L, sinh năm 1994; tên gọi khác: không
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án; Tiền sự: không.
Là đảng viên Đ, sinh hoạt tại chi bộ xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 08/9/2023 ủy ban kiểm tra thành ủy T6 ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng Trần Nhật L.
Con ông Trần Đức L1, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị Bích H, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến ngày 28/9/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Diệp Văn T, sinh năm 1987 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm Đá Bạc, xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Anh Diệp Văn Q, sinh năm 1985 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
* Người có quyền lợi liên quan
- Bà Vũ Thị Bích H, sinh năm 1968 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Triệu Thị N, sinh năm 1992 - Có mặt
Nơi cư trú: xóm N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
* Người làm chứng:
Anh Nghiêm Xuân N1, sinh năm 1996 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm N, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/02/2023, Trần Nhật L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/11/2020 đến xóm B, xã Đ, huyện P để gặp chị Triệu Thị N là bạn gái của L, để mượn xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 của chị N. Sau khi mượn được xe mô tô L điều khiển xe đi đến nhà anh Nghiêm Xuân N1 ở xóm N, xã T, huyện P để ăn cỗ đầy tháng con anh N1. Tại nhà anh N1, L ăn cỗ và uống rượu đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày thì ra về. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 đi về phòng trọ của chị N. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn Km 108+370 Quốc lộ C thuộc xóm T, xã Đ, L điều khiển xe mô tô đi theo hướng Bắc Giang đi Thái Nguyên, đi sang phần đường ngược chiều dẫn đến đâm va với xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 do anh Diệp Văn Q (có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 04/11/2010) điều khiển đi hướng ngược chiều, chở sau là anh Diệp Văn T. Anh Q và anh T đang trên đường đi làm từ khu công nghiệp Đ, huyện P về nhà, anh Q điều khiển xe đi tại phần đường bên phải theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang, cách vạch sơn ở giữa đường khoảng 01 mét. Khi phát hiện xe mô tô của L đi đến, anh Q điều khiển xe mô tô đánh lái sang bên phải để tránh nhưng không tránh được, xe mô tô do L điều khiển đâm vào phần đuôi xe mô tô do anh Q điều khiển và đâm vào anh T làm anh T bị văng ra khỏi xe, anh Q điều khiển xe đi loạng choạng vào lề đường một đoạn thì bị ngã ra lề đường.
Hậu quả: anh Diệp Văn Q, Diệp Văn T và Trần Nhật L bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện T7, hai phương tiện bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:
- - Tình trạng hiện trường: Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do phương tiện giao thông qua lại và do việc cấp cứu người bị nạn.
- - Mô tả hiện trường chung: Là đoạn đường km 108+370 QL 37 thuộc địa phận xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, được trải nhựa áp phan, thẳng, mặt đường hơi dốc theo chiều hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang, lòng đường rộng 7,9m, giữa đường có vạch sơn đứt đoạn màu vàng đã bị mờ, hai bên đường là lề đất và vỉa hè có các hộ dân sinh sống.
- - Thống nhất lấy mép đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang làm mép đường chuẩn.
- - Mốc cố định: Cột Km H3/108 QL37 làm tiêu lề đường trái hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang, sử dụng phép đo hình chiếu vông góc.
- - Mô tả vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- + Vị trí số (1): Vùng dấu vết máu kích thước (1,3x1,0) mét có tâm cách mép đường chuẩn là 6,0 mét;
- + Vị trí số (2): Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 bị đổ nghiêng bên trái nằm tại phần đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang, đầu xe quay hướng đi Thái Nguyên, đuôi xe quay hướng đi Bắc Giang. T1 trục bánh trước cách mép đường chuẩn là là 2,2 mét và tâm trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 2,5 mét, cách tâm vùng 1 là 0,3 mét.
- + Vị trí số (3): Trên lề đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang có vết cày trượt nhựa bê tông kích thước (4,5 x 0,01) mét chiều hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang. Điểm đầu vết cách mép đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang là 3,0 mét, điểm cuối nằm tại vị trí bàn để chân sau xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 tiếp xúc với lề đường.
- + Vị trí số (4): Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 nằm đổ nghiêng bên phải tại lề đường bên phải theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang, đầu xe hướng ra phía mặt đường, đuôi xe hướng vào nhà dân. T1 trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe cách mép đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang lần lượt là 1,5 mét và 2,5 mét. T1 trục bánh sau xe cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 là 40,0 mét, tâm trục bánh xe 20G1-102.30 cách mốc có định 71,0 mét.
- - Phương tiện, dấu vết, tạm giữ: tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn vàng nâu, tô biển kiểm soát 11U1-155.69 và 01 (một) xe mô tô Nhãn hiệu HONDA AIR BLADE; màu sơn vàng, đen, bạc, 20G1-102.30.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn vàng nâu, BKS: 11U1-155.69, xác định:
- + Dấu vết để lại trên phương tiện: Mặt ngoài phía trên chắn bùn trước có vết mài trượt xước bong tróc sơn có chiều hướng từ trước ra sau kích thước (14x8)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 54cm; Mặt nạ, cánh yếm, đèn tín hiệu bên trái, đèn chiếu sáng, mặt đồng hồ công tơ mét bị vỡ rời hoàn toàn; Ốp sau tay lái bật rời toàn bộ lẫy vít, vỡ nứt nhựa kích thước (30x13)cm; Tay phanh bên trái bị gãy rời một đoạn kim loại (8x1)cm; Cụm gương chiếu hậu bên trái bị đẩy cong theo chiều từ trước ra sau, vỡ rời ốp và kính gương, gương chiếu hậu bên phải bị đẩy vặn theo chiều từ trước ra sau, từ phải sang trái; Ốp nhựa sau cánh yếm bên trái có vùng vỡ nhựa kích thước (29x18)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 51cm; Toàn bộ ghi đông xe từ cổ phốt trở lên bị cong đẩy theo chiều từ trước ra sau; Ốp sườn xe bên trái bị xước sát nhựa có chiều từ trước ra sau kích thước (6x0,5)cm; Mặt ngoài bên phải tay xách yên xe có vết xước sát nhựa bong tróc sơn kích thước (3x1,5)cm; Ốp ngoài bầu lọc gió bên trái có vết xước sát kim loại có chiều từ trước ra sau kích thước (5x2)cm. Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Không kiểm tra được do phương tiện bị hư hỏng sau tai nạn.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE; màu sơn vàng, đen, bạc, BKS: 20G1-102.30, xác định:
- Dấu vết để lại trên phương tiện: Tại ốp nhựa điểm tiếp giáp với đèn tín hiệu bên trái phía trước có vùng vỡ nứt nhựa kích thước (6x3)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 78cm; Cánh yếm bên trái có vùng vỡ nứt nhựa kích thước (22x4)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 47cm; Tại mặt ngoài ốp sườn xe bên trái có vết xước sát nhựa bong tróc sơn, chiều hướng từ trước ra sau từ trên xuống dưới, kích thước (13x3)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 52cm; Chắn bùn sau, biển số gắn trên chắn bùn bị gãy rời; Mặt ngoài cánh yếm bên phải có vết trượt xước nhựa bong tróc sơn có chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (15x1)cm; Mặt ngoài ốp gương chiếu hậu bên phải có vết xước sát nhựa, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (14x4); Mặt ngoài dưới để chân trước bên phải có vùng trượt xước nhựa, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (15x2)cm; Tại mặt ngoài ốp ống xả bên phải có vùng trượt xước nhựa, bong tróc sơn, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (26x6)cm. Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Đầy đủ, có tác dụng.
Ngày 24/3/2023, Phòng C, Công an tỉnh T ra Quyết định trưng cầu giám định số120 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Diệp Văn T.
Tại bản kết luận giám định số 261/KLTTCT-GĐTH ngày 28/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Văn T tại thời điểm giám định là: 35%. .
Ngày 19/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 04 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Diệp Văn T .
Tại bản kết luận giám định số 511/KLTTCT-TTPY ngày 27/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Văn T tại thời điểm giám định là: 68%,. Cơ chế hình thành thương tích Do tác động của vật tày.”
Ngày 12/4/2023, Phòng C, Công an tỉnh T ra Quyết định trưng cầu giám định số140 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Diệp Văn Q .
Tại bản kết luận giám định số 323/KLTTCT-TTPY ngày 13/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Văn Q tại thời điểm giám định là: 1%.
Ngày 19/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 03 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Diệp Văn Q.
Tại bản kết luận giám định số 509/KLTTCT-TTPY ngày 27/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Diệp Văn Q tại thời điểm giám định là: 1%.
Ngày 19/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định số 117 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Nhật L.
Tại bản kết luận giám định số 510/KLTTCT-TTPY ngày 27/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Nhật L tại thời điểm giám định là 51%. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.”
Ngày 21/6/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P đã yêu cầu định giá tài sản số 65 đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE; biển kiểm soát 20G1-102.30.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận kết luận: Giá trị những thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 do vụ việc xảy ra ngày 26/02/2023 gây ra là 1.550.000 đồng.
Ngày 21/6/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P đã yêu cầu định giá tài sản số 66 đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 11U1-155.69 .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận kết luận: Giá trị những thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 do vụ việc xảy ra ngày 26/02/2023 gây ra là 6.190.000 đồng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu và trong hơi thở: Kết quả xét nghiệm định lượng cồn trong máu của Trần Nhật L hồi 01 giờ 40 phút ngày 27/02/2023 tại Khoa Sinh hoá Bệnh viện T7 là 44.33mmol/L (chỉ số bình thường là <= 1.76mmol/L); Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của anh Diệp Văn Q hồi 22 giờ 01 phút ngày 26/02/2023 là 0.000mg/L .
Tại biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 26/2/2023 do phòng C Công an tỉnh T lập đã thu giữ:
- - 01 (một) Giấy phép lái xe Hạng A1 số [...] mang tên Trần Nhật L, sinh ngày 22/11/1994, nơi cư trú: xóm G, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/11/2020; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 013405 do Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng cấp ngày 19/11/2019, tên chủ xe Triệu Thị N.
- - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số AQ195118 mang tên Diệp Văn Q, năm sinh 1985, nơi thường trú: xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 04/11/2010; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008933 do Công an huyện P cấp ngày 04/8/2012.
Ngày 28/7/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp nhận của ông Nghiêm Xuân N1 một tiệp tin video tên “3010213734976258264.mp4" có liên quan đến vụ việc, sau khi tiếp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trực tiếp Kiểm tra tập tin video tên “3010213734976258264.mp4" thấy có thời lượng 00 phú 22 giây, thời gian trên màn hình hiển thị từ 21:16:02 đến 21:16:24 ngày 26-02-2023. Tiến hành xem trực tiếp video xác định nội dung như sau: Video ghi lại hoạt động của phương tiện tham gia giao thông trên một đoạn đường giao thông, có hình ảnh một xe mô tô (quy ước là xe “1”) trên xe có một người di chuyển từ phía bên phải màn hình về phía bên trái góc trên màn hình sau đó đâm va với một xe mô tô (quy ước là xe “2”) đi ngược chiều và phát ra tiếng kêu, trước thời điểm đâm va thì xe mô tô "2" có hành động tránh lái về phía bên phải theo hướng đi của xe Tiếp đó, xe mô tô “2” tiếp tục di chuyển rên rìa đường rồi đổ ra rìa đường.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Trần Nhật L đã khai nhận rõ nội dung vụ án như nêu trên. Lời khai của Trần Nhật L là tự nguyện, phù hợp khách quan với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, tình trạng thương tích, các kết luận giám định, kết quả dựng lại hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Trần Nhật L đã bồi thường cho anh Diệp Văn T số tiền 220.000.000 đồng, anh T không đề nghị bồi thường gì khác về dân sự; anh Diệp Văn Q không đề nghị bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30; chị Triệu Thị N không đề nghị bồi thường về thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69.
Ngày 22/9/2023 anh Diệp Văn Q và anh Diệp Văn T là bị hại đều có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Nhật L.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 Giấy phép lái xe Hạng A1 số [...] mang tên Trần Nhật L, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện P theo quy định của pháp luật.
- Đối với xe mô tô Nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn vàng nâu, biển kiểm soát 11U1-155.69; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE Biển kiểm soát 20G1-102.30. 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AQ195118 mang tên Diệp Văn Q; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008933 do Công an huyện P cấp ngày 04/8/2012. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý sử dụng.
Bản cáo trạng số 123/CT- VKSPB, ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Nhật L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo Trần Nhật L khai: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26/02/2023, tại đoạn Km 108+370 Quốc lộ C thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, bị cáo có giấy phép lái xe mô tô đã điều khiển xe trong tình trạng đã uống rượu. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 đi sai phần đường dẫn đến đâm va với xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 do anh Diệp Văn Q điều khiển chở sau anh Diệp Văn T đi hướng ngược chiều. Hậu quả: Trần Nhật L bị tổn hại sức khoẻ là 51%; anh Diệp Văn Q bị tổn hại sức khoẻ là 1%; anh Diệp Văn T bị tổn hại sức khoẻ là 68%.
Bị hại T, Q khai: nhất trí với nội dung truy tố của Viện kiểm sát huyện Phú Bình và lời khai của bị cáo L tại phiên tòa; bị hại T đã nhận số tiền 220.000.000 đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) do bị cáo tác động đến gia đình bồi thường, T, Q không còn yêu cầu gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.
Người có quyền lợi liên quan xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11U1 155.69 là của chị N, do L có đến phòng trọ của chị mượn xe mô tô để đi ăn cỗ đầy tháng con của bạn tại xã T. Đến nay chị đã nhận lại xe mô tô và giấy phép lái xe mang tên Triệu Thị N. Chị N không yêu cầu ai phải bồi thường.
Bà H (mẹ đẻ bị cáo L) khai: bà đã giúp L bồi thường 180.000.000 đồng cho bị hại là anh T, nay bà không yêu cầu bị cáo L phải hoàn trả bà số tiền trên.
Trong phần tranh luận, đại diên Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Nhật L và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Nhật L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Nhật L 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và hai bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong, đề nghị không xem xét giải quyết về trách nhiệm phần dân sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46,Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại bị cáo L: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang trên Trần Nhật L;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.
Hai bị hại nhất trí và người có quyền lợi liên quan nhất trí, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụngcủa Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện P; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Đối với việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng là anh Nghiêm Xuân N1; Hội đồng xét xử thấy người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa thấy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26/02/2023, tại đoạn Km 108+370 Quốc lộ C thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, bị cáo L có giấy phép lái xe mô tô, trong tình trạng có định lượng cồn trong máu là 44.33mmol/L đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69 đi sai phần đường (đi sang phần đường ngược chiều) dẫn đến đâm va với xe mô tô biển kiểm soát 20G1-102.30 do anh Diệp Văn Q điều khiển chở sau anh Diệp Văn T đi hướng ngược chiều đang đi đúng phần đường quy định. Hậu quả: Trần Nhật L bị tổn hại sức khoẻ là 51%; anh Diệp Văn Q bị tổn hại sức khoẻ là 1%; anh Diệp Văn T bị tổn hại sức khoẻ là 68%.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan phù hợp với nhau và thống nhất với lời khai của chính cácbị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với lời khai của hai bị hại, người liên quan, người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Bệnh án của người hai bị hại cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Hành vi nêu trên của Trần Nhật L vi phạm khoản 8 Điều 8; khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia;
Luật giao thông đường bộ quy định:
Khoản 1 Điều 9. quy tắc chung:
“1. Người tham gia giao thông phải đi đúng làn đường, phần đường quy định ...”
Luật Phòng chống tác hại của rượu bia quy định:
Khoản 1 Điều 35: Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác.
“ 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau:
8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.
Hành vi của Trần Nhật L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
b) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.:
a)
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”.
- Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về an toàn giao thông vận tải đường bộ gây hậu quả xâm phạm sức khỏe của người tham gia giao thông khác và gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Xét cần có mức án tương xứng đối với bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt: Xét bị cáo tuổi đời còn rất trẻ có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L khai báo rất thành khẩn thực sự ăn năn hối cải về việc làm của mình, đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường khắc phục hoàn toàn hậu quả cho bị hại; người bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Nhật L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo L được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về biện pháp ngăn chặn: Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Nhật L, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày xét xử cho đến khi bị cáo chấp hành bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Trần Nhật L cùng gia đình đã bồi thường xong cho người bị hại số tiền 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) và người bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm; chị Triệu Thị N không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 11U1-155.69.
- Về xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang trên Trần Nhật L. Đây là tài sản hợp pháp của L nên cần trả lại cho bị cáo tiếp tục quản lý, sử dụng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ, pháp luật áp dụng:
- -Về hình phạt chính: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nhật L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt Trần Nhật L 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 21 tháng 12 năm 2023).
Giao bị cáo Trần Nhật L cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Trần Nhật L) nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Nhật L buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/12/2023 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Trần Nhật L đã bồi thường xong cho người bị hại số tiền 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng) và hai người bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Trả lại cho Trần Nhật L 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang trên Trần Nhật L.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt tại phiên tòa.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Mây |
12
Bản án số 127/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 127/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Nhật Linh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
