Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 127/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-12-2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Ngô Thị Ngọc Cúc.
  2. Ông Nguyễn Tấn Hậu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 251/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 359/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lê Danh T, sinh năm 1968 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Cư trú: Số A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.

  • Bị đơn: Bà Lâm Thị T1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  • Cư trú: Số A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Nguyên đơn ông Lê Danh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Danh T và bà Lâm Thị T1 do tìm hiểu rồi quen biết nhau và được hai bên gia đình đồng ý ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới, sau đó ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T (nay là xã K) tỉnh Ninh Bình, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian đầu đến ngày 22/9/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống tính tình không phù hợp nhau, tuy vẫn sống chung trong một mái nhà nhưng ông bà không có nói chuyện qua lại với nhau làm cho tình cảm vợ chồng ngày thêm ngột ngạt và nhạt nhoà, vì vậy ông bà chính thức ly thân từ ngày 22/9/2025 cho đến nay. Nay ông Lê Danh T yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lâm Thị T1.

Về con chung: Ông Lê Danh T và bà Lâm Thị T1 có 03 con chung tên Lê Hoài N, sinh ngày 28/2/1992, cháu Lê Thị Phương T2, sinh ngày 04/4/2003 và cháu Lê Thị Phương H, sinh ngày 23/01/2010. Khi ly hôn ông T đồng ý giao con chung tên Lê Thị Phương H cho bà T1 trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con. Đối với Lê Hoài N và Lê Thị Phương T2 đã thành niên, có khả năng lao động và tự lập được không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn bà T1.
  • Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị Phương H cho bà T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
  • Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
  • Đề nghị giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường M, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    2. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà T1 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T1 do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông yêu cầu ly hôn bà T1.

      Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng bà T1 vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho ông T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

    2. Về con chung: Ông T và bà T1 có 03 (ba) con chung tên Lê Hoài N, sinh ngày 28/2/1992, cháu Lê Thị Phương T2, sinh ngày 04/4/2003 và cháu Lê Thị Phương H, sinh ngày 23/01/2010. Hiện cháu N và cháu T2 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

      Hiện cháu H đang sống chung với bà T1, ông T đồng ý giao con chung cho bà T1 nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt và nguyện vọng của cháu H, tạo điều kiện cho cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu H cho bà T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

      Bà Lâm Thị T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Lê Danh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Ông Lê Danh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Danh T. Ông Lê Danh T được ly hôn bà Lâm Thị T1.
  2. Về con chung:
    1. Ông Lê Danh T và bà Lâm Thị T1 có 03 con chung tên Lê Hoài N, sinh ngày 28/2/1992, cháu Lê Thị Phương T2, sinh ngày 04/4/2003 và cháu Lê Thị Phương H, sinh ngày 23/01/2010. Hiện cháu N và cháu T2 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu H hiện đang sống cùng với bà T1.
    2. Giao cháu H cho bà Lâm Thị T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

      Bà Lâm Thị T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Lê Danh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Ông Lê Danh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006392 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV9;
  • - Chi cục THADS KV9;
  • - UBND Khánh Cư (GCN số 02, ngày 05/4/1992);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Ngọc Cúc      Nguyễn Tấn Hậu

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 127/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T được ly hôn bà T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger