Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 12 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công

Các hội thẩm nhân dân: ông Phùng Văn Thông, ông Nguyễn Ngọc Triển

Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: ông Hoàng Minh Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Q, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1980

Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn L và bà: Kim Thị H; có vợ là Hà Thị S; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án,Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 04/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, vắng mặt
  • Nơi cư trú: xóm T, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
  • Địa chỉ hiện nay: phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Anh Chu Văn T1, sinh năm 1997, vắng mặt
  • Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1992, vắng mặt
  • Nơi cư trú: thôn E, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Anh Kim Thanh Đ1, sinh năm 1985, vắng mặt
  • Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện V, Vĩnh Phúc
  • - Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1988, vắng mặt
  • Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Anh Trần Ngọc L1, sinh năm 1992, vắng mặt
  • Nơi cư trú: thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Chị Vũ Thị Thanh T2, sinh năm 1975, vắng mặt
  • Nơi cư trú: 04/11/ Trại Chuối, P Trại Chuối, Q. H, T.P Hải Phòng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Q, sinh năm 1980, trú tại thôn P- xã T- huyện V không có giấy phép kinh doanhtrong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng, thấy nhiều đối tượng có nhu cầu vay tiền, việc cho vay tiền với lãi suất cao thu lợi lớn nên từ khoảng tháng 6/2023 đến nay, Q1 cho một số người vay tiền với lãi suất cao, trái quy định của pháp luật gồm: Chu Văn T1, sinh năm 1997 trú tại xã K, huyện V; anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1992 trú tại xã Đ, huyện V; anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, trú tại xã T- huyện P- tỉnh Thái Nguyên, hiện trú tại phường Đ, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc. Những người đến vay tiền của Q đều phải cầmcố tài sản là xe ô tô, xe mô tô hoặc giấy tờ xe, đồng thời phải viết cho Q giấy bán xe, giấy vay tiền, hợp đồng cho vay tiền, hợp đồng thuê xe. Toàn bộ tên ngườivay, số tiền vay, lãi suất vay đều được Q ghi chép vào 01 quyển sổ để theo dõi.

Quá trình giao dịch cho vay, trả gốc, nhận lãi, Q sử dụng tài khoản số 2806205169870 mởtại Ngân hàng N (A) của Q và tàikhoản ngân hàng số 19035633077011 mở tại ngân hàng TMCP K (T8) của chị Vũ Thị Thanh T2, sinh năm 1975 trú tại phường T, quận H, TP . (chị T2 là bạn của Q); anh T1 sử dụng tài khoản số 0348681877 mở tại Ngân hàng TMCP Q4 (MB) đứng tên vợanh T1 là chị Trần Thị D và tài khoản ngân hàng số 1041182502 mở tạiNgân hàng TMCP N1 (V) đứng tên em gái anh T1 là chị Chu Thị Thu T3; anh Đ sử dụng tài khoản ngân hàng số 0973222999 mởtại Ngân hàng TMCP Q4 (MB) của anh Đ; anh T sử dụng tài khoảnngân hàng số 3980349216 mở tại ngân hàng TMCP Đ4(B) của anh T để giao dịch với nhau. Cụ thể quá trình giao dịch cho vay tiền giữa Q với anh T1, anh Đ, anh T như sau:

  1. Lê Văn Q cho anh Nguyễn Văn T- SN: 1985, trú tại xã T- huyện P- tỉnh Thái Nguyên, hiện trú tại phường Đ, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc vay:

    Lần 1: Ngày 24/6/2023, anh T đến nhà của Q ở xã T-V vay số tiền 30.000.000đ, Q đồng ý. Hai bên thoả thuận lãi suấtvay là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tương ứng với lãi suất 182,5%/năm,gấp 9,13 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều468 Bộ luật dân sự năm 2015), Q thu lãi trước 10 ngày, sau đó sẽ thu lãi10 ngày 01 lần. Khi cho anh T

    vay tiền thì Q yêucầu anh T phải viết giấy bán xe ô tô biển kiểm soát 20A- 607.37 của anh Thaocho Q2 và để lại cho Q2 đăng kiểm, giấy phéplái xe hạng D và 01 căn cước công dân của anh T để làm tin.Sau khi thu lãi trước 10 ngày đối với khoản vay trên từ ngày 24/6/2023 đếnngày 03/7/2023 tương ứng với số tiền 1.500.000đ, Q2 chuyển khoản cho anh T số tiền 28.500.000đ.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 16.800.000₫(tương đương với 112 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quyđịnh của pháp luật 20% là 1.841.096đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 14.958.904₫.

    Lần 2: Ngày 13/7/2023, Q2 cho anh T vay số tiền 50.000.000đ với lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000₫ tiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Sau đó Q2 và anh T4 văn phòng C1 ở TP V- Vĩnh Phúc làm hợpđồng vay số tiền 50.000.000đ. Sau khi làm thủ tục xong, Q2 và T đi về nhà Q2 ở xã T, huyện V. Tại đâyQuyết đưa trực tiếp cho anh T 50.000.000₫ và yêu cầu anh T viết 01 hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 20A- 607.37 để phùhợp với việc anh T viết giấy bán xe ô tô trên cho Quyếtngày 24/6/2023. Tổng số tiền anh T đã vay của Q2 là 80.000.000đ. Q2 và anh T thống nhất số tiền vay lần 2 sẽ bắt đầu tính lãi từ ngày 14/7/2023.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 23.000.000đ(tương đương với 92 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quyđịnh của pháp luật tương ứng với mức lãi suất20%/năm là 2.520.548đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 20.479.452d.

    Lần 3: Ngày 17/8/2023, Q2 cho anh T vay số tiền 30.000.000đ với lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đtiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Do trước đó anh T vẫn còn nợ tiền nên Q2 không yêu cầu anh T phải viết giấy vay tiền nữa. Sau đó, Q2 đưa trực tiếp cho anh T sốtiền vay là 19.500.000đ và sử dụng tài khoản ngân hàng của Q2 chuyển số tiềnlà 10.500.000đ vào tài khoản ngân hàng của anh T. Hai bên thống nhất số tiềnvay lần 3 sẽ bắt đầu tính lãi từ ngày 18/8/2023. Tổng số tiền anh T vay củaQuyết 03 lần là 110.000.000đ.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 8.550.000₫ (tương đương với 57 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Q2 được hưởng theo quyđịnh của pháp luậttương ứng với mức lãi suất20%/năm là 936.986đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 7.613.014₫

    Lần 4: Ngày 18/8/2023, Q2 tiếp tục cho anh T vay 10.000.000₫ với lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000₫ tiền vay/01 ngày, lãi thu theo ngày.Q2 đưa trực tiếp cho anh T 5.000.000đ và chuyểnkhoản 5.000.000đ đến tài khoản ngân hàng

    của anh T. Hai bên thốngnhất số tiền vay lần 4 sẽ bắt đầu tính lãi từ ngày 19/8/2023. Tổng số tiền anh T vay 04 lần của Q2 là 120.000.000đ.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 2.800.000₫ (tương đương với 56 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quy định của pháp luật tương ứng với mức lãi suất20%/năm là 306.849đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 2.493.151₫

    Lần 5: Ngày 21/8/2023, Q2 cho anh T 10.000.000đ với lãi suất vay là 5.000₫/1.000.000đ tiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Sau đó, Q2 đưa trực tiếp cho anh T 5.000.000đvà chuyển khoản 5.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của anh T. Tổngsố tiền anh T vay của Q2 05 lần là 130.000.000đ. Hai bên thống nhất số tiềnlần 5 sẽ bắt đầu tính lãi từ ngày 21/8/2023.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 1.900.000₫(tương đương với 38 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quy định của phápluật tương ứng với mức lãi suất20%/năm là 208.219đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 1.691.781đ.

    Lần 6: Ngày 22/8/2023, Q2 cho anh T vay số tiền 10.000.000₫ với lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Sau đó, Q2 chuyển khoản 9.300.000đvào tài khoản ngân hàng của T (Q2 trừ luôn số tiền 700.000đ tiền lãi của khoản vay lần1, lần 2, lần 3, lần 4, lần 5 và lần 6 của ngày 22/8/2023). Tổng số tiền anh T của Q2 06 lần trên là 140.000.000đ.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 1.850.000₫ (tương đương với 37 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quy định của pháp luật tương ứng với mức lãi suất20%/năm là 202.740đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 1.647.260đ.

    Lần 7: Ngày 25/8/2023, anh T vay của Q2 10.000.000đ với lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000₫ tiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Q2 đưa trực tiếp cho anh T 4.250.000đ và chuyển khoản5.000.000đ vào tài khoản của anh T (Q2 trừ luôn 750.000đ tiền lãi vay lần 1,lần 2, lần 3, lần 4, lần 5, lần 6 và lần 7 của ngày 25/8/2023). Tổng số tiền anh T vay của Q2 07 lần trên là 150.000.000đ.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 1.000.000₫(tương đương với 20 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quyđịnh của pháp luật tương ứng với mức lãi suất20%/năm là 109.589đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 890.411đ.

    Lần 8: Ngày 29/8/2023, anh T vay của Q2 10.000.000₫ vớilãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày, tiền lãi trả theo ngày. Sau đó,Q2 đưa trực tiếp cho anh T 10.000.000đ. Tổng số tiền anh T vay của Q2 08 lần trên là 160.000.000₫.

    Đối với khoản vay trên, anh T đã trả cho Q2 số tiền lãi là 800.000đ(tương đương với 16 ngày trả lãi), số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quy định của pháp luật tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 87.671đ, Q2 thu lời bất chính số tiền 712.329d.

    Lần 9: Ngày 30/8/2023, anh T vay của Q2 số tiền 5.000.000đ, không tính lãi. Ngày 31/8/2023, anh T đến gặp trực tiếp Q2 để trả cho Q2 số tiền 5.000.000₫ mà anh T vay nóng của Quyết ngày 30/8/2023.

    Như vậy, tổng số tiền gốc Lê Văn Q cho anh Nguyễn Văn T vay với lãi suất cao trong 08 lần trên là 160.000.000đ, với mức lãi suất 5.000đ/1.000.000₫ tiền vay/01 ngày (tương ứng 182,5%/năm, gấp 9,13 lần so vớimức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sựnăm 2015). Anh T đã trả cho Q 40.000.000đ tiền gốc (của các lần vay: lần 5, lần 6, lần 7 và lần 8) và còn nợ lại số tiền gốc là 120.000.000đ. Tổng số tiền lãi anh T đã trả cho Q là 56.700.000đ, số tiền lãi tối đa Quyết được hưởng theo quy định của phápluật tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 6.213.698đ, Q thu lời bất chính số tiền 50.486.302₫.

  2. Lê Văn Q cho anh Chu Văn T1- SN: 1997, trú tại thôn P- xã K- huyện V vay:

    Ngày 27/5/2024, anh T1 hỏi vay Q số tiền 50.000.000đ để làm ăn kinh doanh thì Q đồng ý và hẹn anh T1 buổi tối cùng ngày đến quán ăn “H1 hảo quán” ở thôn D - xã Đ- huyện V của chị Bùi Thị H1- SN: 1988, trú tại thôn C- xã Đ- huyện V (chị H1 là bạn Q) để làm thủ tục vay tiền. Sau đó anh T1 mượn xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại xe: Cerato, màu trắng, gắn biển kiểm soát: 88A- 213.45 của bạn là anhTrần Ngọc L1- SN: 1992, trú tại xã C- huyện V để đi cầm cốvay tiền của Q thì anh L1 đồng ý. Buổi tối cùng ngày, anh T1 điều khiển xeô tô trên đến quán của chị H1 gặp Q. Tại đây, hai bên thỏa thuận lãi suất vay là 5.000₫/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tương ứng 182,5%/năm, gấp 9,13 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sựnăm 2015), anh T1 phải thế chấp tài sản là xe ô tô và 10 ngày Q sẽ thu tiền lãi một lần. Q yêu cầu anh T1 viết giấy mua bán xe ô tô, ký tên, điểm chỉ theo mẫu có sẵn. Do xe ôtô anh T1 cầm cắm không phải là xe chính chủ nên Q thu thêm của anh T1 10.000.000đ tiền phí dịch vụ cho vay và không thu lãi trước. Sau đó, Q chuyển khoản 40.000.000đ đến tài khoản ngân hàng của vợ anh T1 là chị Trần Thị D để cho anh T1 vay tiền. Sau khi giao dịch xong, Q gửi chiếc xe ô tô nên trên tại nhà anh Kim Thanh Đ1. Lần lượt các ngày: 09/6/2024, 19/6/2024, 02/7/2024, 14/7/2024, 29/7/2024 anh T1 đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho Q để trả tiền lãi với tổng số tiền là 15.300.000đ cho Q tương đương

    với 61 ngày vay tính từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/7/2024 (ngày 27/7/2024, 28/7/2024 hai bên thống nhất không tính tiền lãi). Ngày 29/7/2024 anh T1 trả cho Q 50.000.000đ tiền gốc

    Như vậy, đối với khoản vay trên anh T1 đã trả tiền lãi cho Q là 2 5.300.000đ (gồm 10.000.000₫ Quyết thu khi cho anh T1 vay tiền và 15.300.000đ tiền lãi anh T1 trả tương đương với 61 ngày), trong đó số tiền lãi tối đa Q được hưởng theo quy định của pháp luật tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 1.671.233đ, Q thu lời bất chính số tiền 23.628.767₫.

  3. Lê Văn Q cho anh Bùi Văn Đ- SN: 1992, trú tại thôn E- xã Đ- huyện V vay tiền, cụ thể:

    Ngày 29/7/2024, anh Bùi Văn Đ đi xe mô tô nhãn hiệu Honda -SH 1251, BKS: 88L1-442.32 của mình đến gặp Q tại nhà anh KimThanh Đ2. Tại đây, anh Đ đặt vấn đề muốn cầm cắm chiếc xe mô tô trên để vay của Q 20.000.000đ thì Q đồng ý. Hai bên thoả thuận lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tương ứng với lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015), thu lãi trước 30 ngày tương ứng với số tiền 3.000.000đ. Q yêu cầu anh Đ viết giấy bán xe ô tô theo mẫu đánh máy sẵn rồi để lại xe mô tô trên kèm theo đăng ký xe. Sau đó Q sử chuyển khoản số tiền 17.000.000đ vào tài khoản của anh Đ.

    Như vậy, đối với khoản vay trên anh Đ đã trả tiền lãi cho Q 3.000.000₫ (tương đương với 30 ngày trả lãi), trong đó số tiền lãi tối đa Q được hưởng theo quy định của pháp luật tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 328.767đ, Q thu lời bất chính số tiền 2.671.233đ, tiền gốc anh Đ chưa trả cho Q.

Sau khi Q cho anh Đ vay tiền, Cơ quan CSĐT Công an huyện V nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp thông tin về việc Lê Văn Q, sinh năm 1980, trú tại thôn P- xã T- huyện V cóhoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại nhà anh Kim Thanh Đ1, sinh năm 1985, trú tại xóm T- xã T- huyện V. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp cùng Công an xã T tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin phát hiện Lê Văn Q vừa nhận cầm cố của anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1992 trú tại thôn E- xã Đ- huyện V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: SH125I, màu sơn: Trắng - đen, số máy: JF73E0016614, số khung: 730XGY016516,biển kiểm soát: 88L1-442.32 để cho anh Đ vay số tiền 20.000.000đ với lãi suất 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã lập biên bản sự việc.

* Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm:

  • - Thu của Q số tiền 55.000.000đ;01 xe mô tô nhãn hiệuHonda - SH 125I, màu sơn trắng - đen,BKS 88L1-442.32, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử
  • dụng, bên trong cốp xe có: 01 Giấy bán xe mô tô BKS 88L1-442.32 với bên bán là Bùi Văn Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Aiblade, màu sơn đỏ-đen, BKS: 29P1-034.80, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia - Cerato, màu trắng, BKS 88A-213.45, xe đã qua sử dụng, kiểm tra phát hiện tại hốc để đồ phía trước ghế phụ xe ô tô các giấy tờ gồm: 01 Giấy mua bán xe ô tô trên với bên bán là anh Chu Văn T1, bên mua là Lê Văn Q; 01 giấy chứng nhận đăng ký số 024993 của xe mô tô BKS 88L1-442.32; 01 giấy đăng ký số 015938 của xe mô tô BKS 29P1-034.80; 01giấy chứng nhận đăng ký số 032436, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹthuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB099401101, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự sốAD23/0184363 đều của xe ô tô BKS 88A-213.45; 01 hộp mực dấu hình tròn, nhãn hiệu STAMP PAT deli 9863, màu đỏ; 01chiếc bút bi nhãn hiệu matixs FO-024 vỏ màu xanh, mực màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40, màu vàng, số IMEI 1:862598052308384, IMEI 2: 862598052308392, bên trong gắn 01 thẻ sim số thuê bao0356.457.178.
  • Ngày 29/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồvật đối với Lê Văn Q. Quá trình khám xét thu giữ trong 01 cặp số tại buồng ngủ nhà Q, bên trong có đồ vật, tài liệu:01 hợp đồng gồm 03 (ba) tờ giấy A4 có thể hiện nội dung: Hợp đồng vay tiền giữa bên cho vay là Lê Văn Q bên vay là Nguyễn Văn T; 01 Hợp đồng thuê xe ô tô BKS: 20A-607.37 ngày 13/7/2023 giữa Nguyễn Văn T và Lê Văn Q, có chữ và ký tên T và Q; 01 Giấy bán xeô tô BKS: 20A-607.37đề ngày 24/6/2023, có chữ ký và ghi tên Nguyễn Văn T và Lê Văn Q;01 Căn cước công dân số [...], 01Giấy phép lái xe hạng D số [...] đều mang tên Nguyễn Văn T; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật về bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5930610 của xe ô tô biển kiểm soát: 88A-404.22; 01 Quyển sổ ghi chép bìa màu đen, ngoài bìa có in chữ BUSINESS, bên trong trang số 01 và trang số 02 có ghi các chữ và số.
  • Ngày 29/7/2024 và 12/9/2024, anh Bùi Văn Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra tổng số tiền 20.000.000đ là tiền gốc vay của Quyết ngày 29/7/2024 để phục vụ điều tra vụ án.
  • Tổng số tiền Q đã cho 03 người nêu trên vay với 10 lượt vay là 230.000.000đ, lãi suất cho vay đều là 5.000đ/1.000.000đ tiền vay/01 ngày (tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015). Tổng số tiền lãi Q đã thu được là 85.000.000đ, mức lãi suất tối đa Quyết được
  • hưởng theo quy định của phápluật tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 8.213.698đ; Q thu lời bất chính số tiền 76.786.302₫.

* Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng

  • - Ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêucầu cơquan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số3372,yêu cầu Ngân hàng TMCP Đ4 (B)- Chinhánh V cung cấp: Thông tin về chủ tài của tài khoản ngân hàng S1; Sao kê toàn bộ giao dịch của tài khoản ngân hàng trên từ ngày24/6/2023 đến ngày 21/5/2024. Ngày 08/8/2024, Ngân hàng TMCP Đ5 (B)- Chi nhánh V1 đã có Công văn chuyển tiếp số1942/CĐ-BIDV.VP đến Ngân hàng TMCP Đ4 (B)-Chi nhánh N2 để cung cấp thông tin theo yêu cầu trên của C quanCSĐT Công an huyện V.Ngày 24/9/2024, Ngân hàng TMCP Đ4 (B)-Chi nhánh N2 đã có Công văn phúc đáp số 854. Theo đó xác định,chủ tài khoản số 3980349216 là Nguyễn Văn T, đồng thời cung cấp sao kê cácgiao dịch theo yêu cầu của C điều tra.
  • - Ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêucầu cơ quan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số3373, yêu cầu Ngân hàng N3- Chinhánh Vĩnh T5 cung cấp: Thông tin về chủ tài khoản của tài khoản ngân hàngsố 2806205169870; Sao kê toàn bộ giao dịch của tài khoản trên từ ngày 24/6/2023đến ngày 29/7/2024.Ngày 12/9/2024, Ngân hàng N3- Chi nhánh V2 đã có Công văn phúc đáp số 20/NHNo.VT-TH. Theo đó xác định, chủ tài khoản số 2806205169870 là Lê Văn Q, đồng thời cungcấp sao kê các giao dịch theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
  • - Ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêucầu cơ quan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số3374, yêu cầu Ngân hàng TMCP Q4 (MB)- Chi nhánh V1 cung cấp: Thông tin về chủ tài khoản của tài khoản ngân hàng S2; Sao kê toànbộ giao dịch của tài khoản trên trong ngày 29/7/2024.Ngày 08/8/2024, Ngân hàng TMCP Q4 (MB)- Chi nhánh V3 có Công văn phúc đáp số 1004/MB-VPH. Theo đó xác định, chủ tài khoản số 0973222999 là anh Bùi Văn Đ, đồng thời cung cấp sao kê các giao dịch theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
  • - Ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu cơ quan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số3375, yêu cầu Ngân hàng TMCP K (T8)- Chi nhánhVĩnh P cung cấp: Thông tin về chủ tài khoản của tài khoản ngân hàng S3; Sao kê giao dịch của tài khoản trên từ ngày 22/7/2023 đến ngày15/8/2023.Ngày 05/9/2024, Ngân hàng TMCP K (T8)Chi nhánh T9 - hải Phòng, đã có Công văn phúc đáp số 205/2024/TCB TOH.Theo đó xác định, chủ tài khoản số 19035633077011 là Vũ Thị Thanh T2 đồng thời cung cấp sao kê giao dịch theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
  • - Ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu cơ quan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số 3376, yêu cầu Ngân hàng TMCP N1 (V)- Chi nhánh V1 cung cấp: Thông tin về chủ tài khoản của tài khoản ngân hàng S4; Sao kê toàn bộ giao dịch của tài khoản ngân hàng trên trong ngày 19/6/2024. Ngày 05/8/2024, Ngân hàng TMCP N1 (V)- Chi nhánh V1 đã có Công văn phúc đáp số 1026/VCBVP-KT. Theo đó xác định, chủ tài khoản số 1041182502 là chị Chu Thị Thùy T6 (em gái anh T1), đồng thời cung cấp sao kê các giao dịch theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
  • - Ngày 04/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu cơ quan/tổ chức/cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử số 3885, yêu cầu Ngân hàng TMCP Q4 (MB)- Chi nhánh V1 cung cấp: Thông tin về chủ tài khoản của tài khoản ngân hàng S5; Sao kê toànbộ giao dịch của tài khoản trên trong ngày 27/5/2024.Ngày 13/9/2024, Ngân hàng TMCP Q4 (MB)- Chi nhánh V3 có Công văn phúc đáp số 1166/MB-VPH. Theo đó xác định, chủ tài khoản số0348681877 là chị Trần Thị D (vợ anh Chu Văn T1), đồng thời cung cấp sao kê các giao dịch theoyêu cầu của Cơ quan điều tra.

Qua nghiên cứu nội dung các công văn phúc đáp, sao kê giao dịch do các ngân hàng nêu trêncung cấp thấy nội dung giao dịch giữa các tài khoản do các ngân hàng cung cấp về số tiền, thời gian các đối tượng chuyển tiền đúng như lời khai của bị can và người có liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Về hành vi của những người liên quan:

  • Đối với anh Kim T7 Đảng là chủ nhà nơi Lê Văn Q giao dịch cầm cắm tài sản cho vay tiền và trả tiền. Quá trình xác minh,anh Đ1 không biết việc giao dịch vay và trả tiền giữa Q với anh T1 và anh Đ cụ thể như thế nào. Do quen biết nên Quyếtđến nhà anh Đ3 và thực hiện giao dịch trên thì anh Đ1 không để ý, bản thân anh Đ1 không được lợi ích gì từ việc Q cho vay và nhận tiền với lãi suất cao nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý.
  • Đối với chị Bùi Thị H1 là chủ nhà nơi Lê Văn Q giao dịch cầm cắm tài sản cho vay tiền với anh Chu Văn T1 ngày 27/5/2024 và chị H1 cũng là người nhận tiền của anh T1 trả cho Q ngày 09/6/2024. Quá trình xác minh,chị H1 không biết việc giao dịch vay tiền giữa Q với anh T1 ngày 27/5/2024 cụ thể như thế nào và cũng không biết số tiền anh T1 trả cho Q ngày 09/6/2024 là tiền gì. Do quen biết nên Quyếtđến nhà chị H2 và thực hiện giao dịch trên thì chị H1
  • không để ý, bản thân chị H1 không được lợi ích gì từ việc Q cho vay và nhận tiền với lãi suất cao nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý.
  • Đối với chị Vũ Thị T2: Tài khoản Ngân hàng TMCP K (T8)số 19035633077011 của chị T2 nhận được tổng số tiền 9.600.000đ từ tài khoản của anh Nguyễn Văn T chuyển đếntừ ngày 22/7/2023 đến ngày 15/8/2023. Quá trình điều tra xác định, khoảng tháng 6/2023, Lê Văn Q có vay của chị T2 số tiền 10.000.000đ nên khi anh T trả tiền lãi từngày 22/7/2023 đến ngày 15/8/2023, Q trao đổi để anh T2 chuyển số tiền trên đến tài khoản của chị T2 để trả nợ và trả trực tiếp 400.000đ cho chị T2. Chị H1 không biết việc giao dịch vay tiền giữa Q với anh T cụ thể như thế nào. Sau khi nhận được số tiền trên, chị T2 đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

* Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: SH 125I, màu sơn: Trắng- đen, số máy: JF73E0016614, số khung: 730XGY016516, biển kiểm soát: 88L1- 442.32 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024993 của xe mô tô biển kiểm soát 88L1-442.32.Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của anh Bùi Văn Đ. Ngày 02/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và giấy đăng ký cho anh Đ theo quy định pháp luật. Anh Đ đã nhận lại tài sản đó và không có đề nghị gì.
  • - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại xe: Cerato, màu trắng, số khung: 41A6JC130702, số máy: G4FGJH601290, biển kiểm soát: 88A-213.45; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032436 của xe ô tô BKS 88A-213.45; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB 0994011; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số AD23/0184363. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của anh Trần Ngọc L1- SN: 1992, trú tại xã C- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc (là bạn của anh Chu Văn T1). Ngày 02/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ xe ô tô này cho anh L1 theo quy định pháp luật. Anh L1 đã nhận lại tài sản đó và không có đề nghị gì.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Aiblade, màu sơn: Đỏ- đen, số máy: JF24E0547847, số khung: RLHJF24088BY034510, biển kiểm soát: 29P1-034.80; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 015938. Quá trình điều tra xác định,đây là tài sản, giấy tờ hợp pháp của Lê Văn Q sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên trả lại nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc bị can thi hành án.
  • - Đối với 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs F0-024 vỏ màu xanh, mực màu xanh và 01 hộp mực dấu hình tròn, nhãn hiệu STAMP PAT deli 9863. Quá trình điều tra xác định là công cụ, phương tiện Lê Q sử dụng phục vụ việc cho vay lãi nặng. Do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40, màu vàng, số IMEI 1: 862598052308384, IMEI 2: 862598052308392bên trong nắp sim số thuê bao 0356.457.178. Quá trình điều tra xác định là công cụ, phương tiện Q sử dụng để liên lạc, trao đổi với khách vay trước khi cho họ vay tiền, đôn đốc khách trả tiền gốc, tiền lãi và sử dụng để chuyển khoản tiền vay cho khách, nhận chuyển khoản khách trả. Do vậy, cần tịch thu để bánsung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại di động trên và tịch thu tiêu huỷ đối với chiếc sim điện thoại do không còn giá trị sử dụng.
  • - Đối với 01 Giấy bán xe mô tô BKS 88L1-442.32ngày 29/7/2024 giữa anh Bùi Văn Đ và Lê Văn Q khi anh Đ vay số tiền 20.000.000đ; 01 Giấy mua bán xe ô tô BKS 88A-213.45 giữa anh Chu Văn T1 và Lê Văn Q khi anh T1 vay 50.000.000đ của Quyết ngày 27/5/2024;01 hợp đồng vay tiềngồm 03 tờ giấy A4 giữa Lê Văn Q vàanh Nguyễn Văn T khi anh T vay số tiền 50.000.000đ và 40.000.000đ;01 hợp đồng thuê xe ô tô BKS 20A-607.37 giữa anh Nguyễn Văn T và Lê Văn Q; 01 giấy bán xe ô tô BKS 20A-607.37, giữa anh Nguyễn Văn T và Lê Văn Q.Quá trình điều tra xác định số giấy tờ trên là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01Căn cước công dân; 01Giấy phép lái xe hạng D đều mang tên Nguyễn Văn T; 01Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật về bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5930610 của xe ô tôBKS 20A-607.37. Quá trình điều tra xác định số giấy tờ trên là của anh T thế chấp cho Q khi vay tiền. Do đó, cần trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định nhưng cần tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ đối với anh Nguyễn Văn T.
  • - Đối với 01 Quyển sổ ghi chép bìa màu đen, ngoài bìa có in chữ BUSINESS, bên trong trang số 01 và trang số 02 có ghi các chữ và số, tạm giữ khi khám xét nơi ở của Lê Văn Q. Quá trình điều tra xác định Q sử dụngquyển sổ này để ghi chép, theo dõi việc cho khách vay tiền, thu tiền gốc, tiền lãi do khách trảlà vật chứng, tài liệu chứng minh tội phạm nên cần chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - Đối với số tiền 50.000.000đ, tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024. Quá trình điều tra xác định số tiền này số tiền này là tiền gốc do anh Chu Văn T1 trả cho Q, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 5.000.000đ tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền lãi anh Chu Văn T1 trả cho Q từ ngày 07/7/2024 đến ngày 26/7/2024 khi vay số tiền 50.000.000đ, trong đó số tiền lãi tối đa Q được hưởng theo quy định của pháp luật 20 % là 547.945đ cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Số tiền 4.452.055đ còn lại là tiền bị cáo thu lời bất chính nên cần trả lại cho anh T1.
  • - Đối với số tiền 20.000.000₫ anh Bùi Văn Đ tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền gốc vay anh Đ vay của Q vào ngày 29/7/2024, là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Văn Q khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận đã cho vay lãi nặng trong các giao dịch vay nợ dân sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của chính bị cáo, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1) Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

  1. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng; trật tự quản lý kinh tế được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải đưa ra xử lý trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nhiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do vậy, HĐXX thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn cần phạt một mức án nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.

  1. Tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều có nghề nghiệp, có thu nhập, đang trong độ tuổi lao động, phạm tội vì động cơ vụ lợi. Do vậy, cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước.

Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn Q bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng đã bị phạt bổ sung là tiền, nên HĐXX không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  1. Đối với anh Kim T7 Đảng là chủ nhà nơi Lê Văn Q giao dịch cầm cắm tài sản cho vay tiền và trả tiền. Quá trình xác minh,anh Đ1 không biết việc giao dịch vay và trả tiền giữa Q với anh T1 và anh Đ cụ thể như thế nào. Do quen biết nên Q đến nhà anh Đ1 chơi và thực hiện giao dịch trên thì anh Đ1 không để ý, bản thân anh Đ1 không được lợi ích gì từ việc Q cho vay và nhận tiền với lãi suất cao nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý.
  2. Đối với chị Bùi Thị H1 là chủ nhà nơi Lê Văn Q giao dịch cầm cắm tài sản cho vay tiền với anh Chu Văn T1 ngày 27/5/2024 và chị H1 cũng là người nhận tiền của anh T1 trả cho Q ngày 09/6/2024. Quá trình xác minh, chị H1 không biết việc giao dịch vay tiền giữa Q với anh T1 ngày 27/5/2024 cụ thể như thế nào và cũng không biết số tiền anh T1 trả cho Q ngày 09/6/2024 là tiền gì. Do quen biết nên Quyếtđến nhà chị H2 và thực hiện giao dịch trên thì chị H1 không để ý, bản thân chị H1 không được lợi ích gì từ việc Q cho vay và nhận tiền với lãi suất cao nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở, không đề cập xử lý.
  3. Đối với chị Vũ Thị T2: Tài khoản Ngân hàng TMCP K (T8) số 19035633077011 của chị T2 nhận được tổng số tiền 9.600.000đ từ tài khoản của anh Nguyễn Văn T chuyển đến từ ngày 22/7/2023 đến ngày 15/8/2023. Quá trình điều tra xác định, khoảng tháng 6/2023, Lê Văn Q có vay của chị T2 số tiền 10.000.000đ nên khi anh T trả tiền lãi từngày 22/7/2023 đến ngày 15/8/2023, Q trao đổi để anh T2 chuyển số tiền trên đến tài khoản của chị T2 để trả nợ và trả trực tiếp 400.000đ cho chị T2. Chị H1 không biết việc giao dịch vay tiền giữa Q với anh T cụ thể như thế nào. Sau khi nhận được số tiền trên, chị T2 đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
  1. Về vật chứng của vụ án:
  • - Đối với xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: SH 125I, màu sơn: Trắng- đen, số máy: JF73E0016614, số khung: 730XGY016516, biển kiểm soát: 88L1- 442.32 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024993 của xe mô tô biển kiểm soát 88L1-442.32.Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của anh Bùi Văn Đ. Ngày 02/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và giấy đăng ký cho anhĐô theo quy định pháp luật. Anh Đ đã nhận lại tài sản đó và không có đề nghị gì, nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại xe: Cerato, màu trắng, số khung: 41A6JC130702, số máy: G4FGJH601290, biển kiểm soát: 88A-213.45; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032436 của xe ô tô BKS 88A-213.45; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB 0994011; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số AD23/0184363. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của anh Trần Ngọc L1- SN: 1992, trú tại xã C- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc (là bạn của anh Chu Văn T1). Ngày 02/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ xe ô tô này cho anh L1 theo quy định pháp luật. Anh L1 đã nhận lại tài sản đó và không có đề nghị gì, nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Aiblade, màu sơn: Đỏ- đen, số máy: JF24E0547847, số khung: RLHJF24088BY034510, biển kiểm soát: 29P1-034.80; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 015938. Quá trình điều tra xác định,đây là tài sản, giấy tờ hợp pháp của Lê Văn Q3 dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên trả lại nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc bị can thi hành án.
  • - Đối với 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs F0-024 vỏ màu xanh, mực màu xanh và 01 hộp mực dấu hình tròn, nhãn hiệu STAMP PAT deli 9863. Quá trình điều tra xác định là công cụ, phương tiện Lê Q sử dụng phục vụ việc cho vay lãi nặng. Do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40, màu vàng, số IMEI 1: 862598052308384, IMEI 2: 862598052308392bên trong nắp sim số thuê bao 0356.457.178. Quá trình điều tra xác định là công cụ, phương tiện Q sử dụng để liên lạc, trao đổi với khách vay trước khi cho họ vay tiền, đôn đốc khách trả tiền gốc, tiền lãi và sử dụng để chuyển khoản tiền vay cho khách, nhận chuyển khoản khách trả. Do vậy, cần tịch thu để bánsung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại di động trên và tịch thu tiêu huỷ đối với chiếc sim điện thoại do không còn giá trị sử dụng.
  • - Đối với 01 Giấy bán xe mô tô BKS 88L1-442.32ngày 29/7/2024 giữa anh Bùi Văn Đ và Lê Văn Q khi anh Đ vay số tiền 20.000.000đ; 01 Giấy mua bán xe ô tô BKS 88A-213.45 giữa anh Chu Văn T1 và Lê Văn Q khi anh T1 vay 50.000.000đ của Quyết ngày 27/5/2024;01 hợp đồng vay tiềngồm 03 tờ giấy A4 giữa Lê Văn Q vàanh Nguyễn Văn T khi anh T vay số tiền 50.000.000₫ và 40.000.000đ;01 hợp đồng thuê xe ô tô BKS 20A-607.37 giữa anh Nguyễn Văn T và Lê Văn Q; 01 giấy bán xe ô tô BKS 20A-607.37, giữa anh Nguyễn Văn T và Lê Văn Q.Quá trình điều tra xác định số giấy tờ trên là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01Căn cước công dân; 01Giấy phép lái xe hạng D đều mang tên Nguyễn Văn T; 01Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật về bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5930610 của xe ô tôBKS 20A-607.37. Quá trình điều tra xác định số giấy tờ trên là của anh T thế chấp cho Q khi vay tiền. Do đó, cần trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định nhưng cần tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ đối với anh Nguyễn Văn T.
  • - Đối với 01 Quyển sổ ghi chép bìa màu đen, ngoài bìa có in chữ BUSINESS, bên trong trang số 01 và trang số 02 có ghi các chữ và số, tạm giữ khi khám xét nơi ở của Lê Văn Q. Quá trình điều tra xác định Q sử dụngquyển sổ này để ghi chép, theo dõi việc cho khách vay tiền, thu tiền gốc, tiền lãi do khách trảlà vật chứng, tài liệu chứng minh tội phạm nên cần chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - Đối với số tiền 50.000.000đ, tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024. Quá trình điều tra xác định số tiền này số tiền này là tiền gốc do anh Chu Văn T1 trả cho Q, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 5.000.000đ tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền lãi anh Chu Văn T1 trả cho Q từ ngày 07/7/2024 đến ngày 26/7/2024 khi vay số tiền 50.000.000đ, trong đó số tiền lãi tối đa Q được hưởng theo quy định của pháp luật 20 % là 547.945đ cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Số tiền 4.452.055đ còn lại là tiền bị cáo thu lời bất chính nên cần trả lại cho anh T1.
  • - Đối với số tiền 20.000.000₫ anh Bùi Văn Đ tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền gốc vay anh Đ vay của Q vào ngày 29/7/2024, là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

7. Trách nhiệm dân sự, truy thu số tiền phạm pháp

  • - Đối với số tiền 76.786.302đlà tiền thu lời bất chính của Q có được qua việc cho anh Chu Văn T1, anh Bùi Văn Đ và anh Nguyễn Văn T vay tiền (Trong đó, của anh T1 số tiền 23.628.767đ, của anh Đ số tiền 2.671.233đ, của anh T số tiền 50.486.302đ). Quá trình điều tra xác định 03 người nêu trên không sử dụng số tiền đã vay của Q vào mục đích vi phạm pháp luật nên buộc Q phải trả cho Đ số tiền 2.671.233đ, trả cho anh T số tiền 50.486.302đ và trả cho anh T1 số tiền 23.628.767đ. Xác nhận Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Q số tiền 4.452.055đ là tiền anh T1 trả lãi cho Q, đề nghị trả lại cho anh T1. Buộc Q phải trả cho anh T1 số tiền thu lời bất chính còn lại là 19.176712đ.
  • - Truy thu sung công quỹ Nhà nước của Lê Văn Q số tiền 40.000.000đ là tiền gốc anh Nguyễn Văn T đã trả cho Lê Văn Q.
  • - Truy thu sung công quỹ Nhà nước của Lê Văn Q số tiền 8.213.698đ -là tiền lãi Q được hưởng theo quy định của pháp luật là 20 %/năm khi cho anh T1, anh Đ và anh T vay tiền. Xác nhận Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Q số tiền 547.945đ nên cần truy thu của Q số tiền còn lại là 7.665753đ.
  • - Đối với số tiền 120.000.000₫ mà anh Nguyễn văn T vẫn nợ của Lê Văn Q. Đây là số tiền Q sử dụng để phạm tội, hiện anh T đang quản lý. Cần truy thu của anh T để sung ngân sách nhà nước.

Cáo trạng số: 128/CT-VKSVT ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Lê Văn Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 55 Bộ luật hình sự . Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với tất cả các bị cáo.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • - Xử phạt các bị cáo: từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 06 ngày tạm giữ, quy đổi là 18 ngày cải tạo không giam giữ); thời hạn tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án.
  • - Về hình phạt bổ sung: phạt Q từ 40 triệu đến 50 triệu sung ngân sách nhà nước.
  • - Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng, truy thu số tiền phạm pháp của vụ án theo luật định.

QUYẾT ĐỊNH

Vì các lẽ trên,

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự."
  2. Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 55; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với tất cả các bị cáo.
  3. Xử phạt bị cáo: Lê Văn Q 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 06 ngày tạm giữ từ 29/7/2024 đến 04/8/2024, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ), thời hạn tính từ ngày UBND cấp xã nơi theo dõi, giám sát nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo Lê Văn Q cho UBND xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục.

  1. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Văn Q phải nộp số tiền 40.000.000 đồng, sung ngân sách nhà nước.
  2. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc Lê Văn Q phải trả cho anh Nguyễn Văn T 50.486.302đ.
    • - Buộc Lê Văn Q phải trả cho anh Bùi Văn Đ 2.671.233đ.
    • - Buộc Lê Văn Q phải trả cho anh Chu Văn T1 19.176.712đ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và các anh T1, Đ, T có yêu cầu thi hành án; nếu Lê Văn Q không trả đủ số tiền theo quyết định nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Trả lại cho Lê Văn Q: 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Aiblade, màu sơn: Đỏ - đen, số máy: JF24E0547847, số khung: RLHJF24088BY034510, biển kiểm soát: 29P1-034.80; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 015938 (tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự).
    • - Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40, màu vàng, số IMEI 1: 862598052308384, IMEI 2: 862598052308392.
    • - Tịch thu tiêu hủy: sim số thuê bao 0356.457.178; 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs F0-024 vỏ màu xanh, mực màu xanh; 01 hộp mực dấu hình tròn, nhãn hiệu STAMP PAT deli 9863.
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn T: 01 Căn cước công dân; 01Giấy phép lái xe hạng D; 01Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật về bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 5930610 của xe ô tô BKS 20A- 607.37 (tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự).
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 50.000.000đ (số tiền tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024).
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 547.945đ (là một số tiền 5.000.000₫ tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024).
    • - Trả cho anh Chu Văn T1 số tiền 4.452.055đ (là một số tiền 5.000.000₫ tạm giữ của Lê Văn Q ngày 29/7/2024).
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000đ (số tiền mà anh Bùi Văn Đ giao nộp trả tiền gốc cho Q).

    (tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

  4. Về truy thu sung ngân sách nhà nước:
    • - Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với Lê Văn Q số tiền 47.665.753 đồng.
    • - Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với anh Nguyễn Văn T số tiền 120.000.000 đồng.
  5. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Q phải chịu nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.616.713 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng

mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Công an huyện Vĩnh Tường;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường;
  • - UBND TT Tứ Trưng, Vĩnh Tường;
  • - Các bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Quyết phạm tội cho vay nặng lãi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger