Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 127/2025/DS-PT

Ngày 25-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Bà Bùi Thị Phương Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 542/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 231/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Đoàn Thị B, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  2. Bà Đoàn Thị N, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Đoàn Thành K, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  4. Bà Đoàn Thị N1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  5. Bà Đoàn Trúc L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà B, bà N, ông K, bà N1, bà L: Bà Đoàn Thanh N2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  1. Bà Đoàn Thanh N2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N2: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Đoàn Văn P, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Đoàn Quốc K1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Tố N3 là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 1971.
  2. Chị Đoàn Kiều T1, sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, chị T1: Bà Đoàn Thanh N2, sinh năm 1980 (có mặt).

  1. Bà Nguyễn Thị L1 (vắng mặt).
  2. Anh Đoàn Quốc K1, sinh năm 1991 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

  1. Anh Nguyễn Chí H, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Ngân hàng N4. Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh T2. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N4, chi nhánh huyện P - Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Đoàn Văn P là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bà Đoàn Thanh N2 trình bày:

Cha của bà là ông Đoàn Văn L2, sinh năm 1933 (chết năm 1997), mẹ là Phạm Thị G, sinh năm 1936 (chết năm 2019), ông L2, bà G có 07 người con gồm: Đoàn Thị B, Đoàn Thị N, Đoàn Thành K, Đoàn Thanh Đ (chết năm 2013), Đoàn Thị N1, Đoàn Trúc L, Đoàn Thanh N2.

Lúc còn sống cha mẹ bà có phần đất thuộc các thửa 627, 626, 625, 631, 602, 629 tờ bản đồ số 6, diện tích 62.520m², tọa lạc ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau và được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là huyện P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C317405 ngày 10/01/1994. Năm 1992, cha mẹ bà có cho ông Đoàn Văn P là người bà con ở đậu trên phần đất giáp sông khoảng hơn 2.000m² là đất của cha mẹ bà, đến năm 1993, ông P làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã đăng ký luôn diện tích hơn 2.000m² là đất ông P ở đậu trên đất của cha mẹ bà. Năm 2022 anh em bà đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới phát hiện phần đất này ông P đã đứng tên. Bà đại diện gia đình (do bà ở chung với cha mẹ và quản lý, sử dụng đất) trực tiếp gặp ông P trao đổi vấn đề này nhưng ông P cho rằng phần đất này là của ông P nên ông không trả lại mà làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn.

Phần đất ông P ở đậu, làm giấy chứng nhận có nguồn gốc và thuộc quyền sử dụng của cha bà là ông L2 đứng tên, cha mẹ bà có nộp thuế kể cả nộp tiền đối ứng cùng Nhà nước làm lộ giao thông nông thôn, không nghe ông P nói gì đến phần đất nêu trên. Sự việc này cũng được nhiều người dân sinh sống ở địa phương xác nhận nguồn gốc như bà Ngô Thị Đ1, bà Nguyễn Thị L3, ông Kim Thành S, ông Ngô Quốc S1 (người thu tiền làm lộ).

Tại biên bản hòa giải ngày 30/8/2023 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, ông P có ý kiến như sau: “Chỗ bà N2 có thể đưa ra ý kiến thỏa thuận như thế nào, nếu hợp lý thì tôi có thể đồng ý tránh thưa kiện kéo dài, mất tình anh em bởi diện tích đất cũng không còn nhiều, có thể chia người phân nữa theo đo đạc thực tế”. Do đây là đất của cha mẹ bà để lại nên bà và các anh em yêu cầu ông P trả lại chứ không có thỏa thuận.

Do phần đất hiện nay bà đang sử dụng nên bà yêu cầu công nhận phần đất này thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Đoàn Văn L2, yêu cầu ông P thực hiện các thủ tục để chuyển tên lại cho các anh em bà.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc A trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà N2.

· Bị đơn ông Đoàn Văn P trình bày:

Nguồn gốc đất trước đây là của ông nội ông là Đoàn Văn M để lại, ông nội có cho lại cha ông là ông Đoàn Văn H1, Đoàn Văn L2, Đoàn Văn D mỗi người 01 dây đất, căn cứ con lung có sẵn (lung trời xanh) cha ông và ông L2 thống nhất ai ở bên nào thì sử dụng dây đất bên đó, sau khi đào lại con lung thì có một phần đất của ông L2 nằm trên dây đất của ông H1, lúc này ông L2 tiếp tục sử dụng đào đìa mé để bắt cá. Khi ông có vợ thì cha ông và ông L2 thống nhất ông sử dụng một phần đất bên dây đất của ông L2 tương đương với diện tích đất mà ông L2 đang sử dụng bên dây đất của cha ông, ông có trả lại nhân công đào đất trước đây theo yêu cầu của ông L2 và ông L2 thống nhất cho ông làm giấy chứng nhận phần đất này.

Năm 1993 khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L2 và cha ông thống nhất kê khai theo diện tích đã đổi với nhau và ông được cấp giấy chứng nhận phần đất tranh chấp năm 1994. Ông cất nhà và sinh sống trên phần đất này cùng phần đất còn lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 1996 ông dời nhà đi chỗ khác thì ông Đoàn Thanh Đ (con út của ông L2) sử dụng phần đất này, ông và ông Đ có gặp nhau, ông Đ thống nhất phần đất này đã cấp cho ông là của ông, ông thống nhất cho ông Đ sử dụng khi nào ông lấy giấy chứng nhận về thì ông Đ trả lại, sau khi ông Đ chết thì bà N2 về tiếp tục sử dụng phần đất này, do diện tích không lớn và hai bên có quan hệ họ hàng (chú bác ruột) nên ông không có yêu cầu trả đất.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên, hiện đang thế chấp giấy chứng nhận tại Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện P để vay vốn số tiền 70.000.000 đồng.

Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất tranh chấp cho ông.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 231/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị B, bà Đoàn Thị N, ông Đoàn Thanh K2, bà Đoàn Thị N1, bà Đoàn Trúc L, bà Đoàn Thanh N2.

Công nhận phần đất có diện tích 1.971,1m², tọa lạc ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đoàn Thị B, bà Đoàn Thị N, ông Đoàn Thanh K2, bà Đoàn Thị N1, bà Đoàn Trúc L, bà Đoàn Thanh N2, bà Nguyễn Kiều T và chị Đoàn Kiều T1.

Phần đất có vị trí:

Hướng đông giáp phần đất còn lại của bà Đoàn Thanh N2 đang sử dụng, cạnh M5M6 dài 48,64m.

Hướng tây giáp Lê Trung K3, cạnh M1M10 dài 23,28m, cạnh M10M9 dài 18,69m.

Hướng nam giáp phần đất còn lại của bà Đoàn Thanh N2 đang sử dụng, cạnh M9M11 dài 40,71m, cạnh M11M6 dài 4,18m.

Hướng bắc giáp đường bê tông, cạnh M1M2 dài 21,51m, cạnh M2M3 dài 9,11m, cạnh M3M4 dài 6,03m, cạnh M4M5 dài 5,48m.

(kèm theo bản trích đo hiện trạng ngày 07/8/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn P1).

Đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký, hoàn tất thủ tục đứng tên đối với phần đất nêu trên theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đoàn Văn P về việc yêu cầu bà Đoàn Thị B, bà Đoàn Thị N, ông Đoàn Thanh K2, bà Đoàn Thị N1, bà Đoàn Trúc L, bà Đoàn Thanh N2 trả lại phần đất nêu trên.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024 bị đơn là ông Đoàn Văn P kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 231/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn là ông Đoàn Văn P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đoàn Văn P giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 231/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Đoàn Văn P, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Ông Đoàn Văn P kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn với lý do phần đất tranh chấp ông P đã được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là huyện P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm không xem xét.

[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đã có thiếu sót, cụ thể:

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn thống nhất phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 1.971,1m², tại thửa số 1 và số 2 theo bản Trích đo hiện trạng ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn P1.

Bị đơn xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đoàn Văn P đứng tên, hiện nay đang thế chấp tại Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện P để vay vốn số tiền 70.000.000 đồng. Tuy nhiên án sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ vay của Ngân hàng và ghi nhận ý kiến Ngân hàng về hợp đồng thế chấp liên quan đến đất tranh chấp.

Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần đất có diện tích 1.971,1m², tọa lạc ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đoàn Thị B, bà Đoàn Thị N, ông Đoàn Thanh K2, bà Đoàn Thị N1, bà Đoàn Trúc L, bà Đoàn Thanh N2, bà Nguyễn Kiều T và chị Đoàn Kiều T1. Như vậy án sơ thẩm tuyên buộc công nhận phần đất tranh chấp cho nguyên đơn trong khi đất này đang thế chấp ngân hàng nhưng lại không làm việc và ghi nhận ý kiến Ngân hàng về hợp đồng thế chấp tài sản liên quan phần đất này mà buộc bị đơn trả đất đồng thời nhận định tách khoản vay và thế chấp thành vụ kiện khác thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi Ngân hàng.

Mặc khác án sơ thẩm xác định thửa đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn, nhưng không làm văn bản hỏi Sở T3 để đối chiếu làm rõ thực tế phần đất nằm trong giấy chứng nhận do ai đứng tên để làm căn cứ giải quyết vụ án theo Công văn số 1818/STNMT-QLĐĐ ngày 04/6/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T3 mà tự nhận định đất tranh chấp nằm trong giấy bị đơn là chưa đủ cơ sở, sẽ khó khăn trong quá trình thi hành án.

[3] Từ phân tích trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy những sai sót của cấp sơ thẩm nêu trên tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Do vậy cần hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân và giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại để đảm bảo toàn diện vụ án. Do hủy án nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là chưa phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được giữ lại và sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu và đã được xem xét miễn dự nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 231/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết lại theo thủ tục chung.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Được giữ lại và sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đoàn Văn P không phải nộp. Ông P đã được xét miễn dự nộp án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hùng Quang - Bùi Thị Phương Loan

Châu Minh Hoàng

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 127/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do phần đất hiện nay bà đang sử dụng nên bà yêu cầu công nhận phần đất này thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Đoàn Văn L2, yêu cầu ông P thực hiện các thủ tục để chuyển tên lại cho các anh em bà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger