Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 127/2025/DS-PT

Ngày 05-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài;
Ông Nguyễn Trung Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 671/2024/TLPT-DS ngày 02/12/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 133/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy B, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ D, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2024); có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; địa chỉ: số nhà D, tổ B, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 23/01/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ B, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông T: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 28/02/2025); có mặt.

2. Bà Hà Thị H2, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người kháng cáo: nguyên đơn ông Nguyễn Duy B.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/11/2011, ông B có ký hợp đồng đặt cọc với bà H1, để đảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 650m² (10x65x100TC), thuộc thửa thuộc thửa 326, tờ bản đồ 20, giá chuyển nhượng 2.650.000.000 đồng. Ông B là người đặt cọc, bà H1 là người nhận cọc, viết giấy nhận, bà Nguyễn Thị H1 là người nhận cọc số tiền 250.000.000 đồng có bà Trịnh Thị H3 là người môi giới và làm chứng ký tên trong hợp đồng đặt cọc, để thỏa thuận chuyển nhượng phần đất diện tích trên. Khi ông B và bà H1 thỏa thuận thì có bà H2 chứng kiến việc thỏa thuận hợp đồng đặt cọc giữa ông B và bà H1 nhưng bà H2 không trực tiếp tham gia thỏa thuận những nội dung trong hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022. Ngoài ra, còn có mặt bà C nhưng bà C không thỏa thuận hợp đồng đặt cọc với ông B. Bà C và bà H1 có thỏa thuận gì không thì nguyên đơn không biết. Ông B không thỏa thuận trực tiếp với bà C, không giao tiền cho bà C. Đến ngày 27/02/2023 thì bà H1 có gọi ông B để nói ông B đưa thêm tiền, ông B có nhờ bà H2 đưa thêm cho bà H1 số tiền là 25.000.000 đồng. Ngày đo đất, bà H1 nhờ bà H3 gọi điện cho bà H2 đi ký nhận đất, vì chưa đến ngày ký công chứng nên bà H2 nói chưa có tiền công chứng và không đi. Lần 02, bà H3 gọi cho bà H2 nói đi ký nhận đất, tới ngày ký công chứng mới chồng tiền nên bà Hiệp đồng Ý đi nhưng bà H3 gọi lại cho bà H2 nói không phải đi nữa, để bà H1 tự lo. Ngày 17/4/2023, các bên ra văn phòng C1 để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, do ông B đi Đ nên có nói bà H2 đứng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi bà H2 đến Văn phòng C1, bà H2 thấy tên người bán và tên người đứng sổ đất không phải là bà H1, đồng thời trước ngày công chứng, bà H2 được anh trai của bà H1 là ông T1 thông báo đất bà H1 bán đang bị tranh chấp, ông T1 có cho bà H2 xem đơn tranh chấp gửi lên Ủy ban nhân dân xã P nên bà H2 không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi nghe thông tin đất tranh chấp thì bà H2 có gọi điện cho bà H1 thì bà H1 có nói với bà H2 là khi nào giải quyết tranh chấp xong thì ký công chứng cũng được nhưng nay bà H1 đã bán phần đất trên cho người khác rồi nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên hủy hợp đồng đặt cọc, yêu cầu bà H1 trả lại tiền đặt cọc 250.000.000 đồng và

tiền đưa thêm là 25.000.000 đồng, tổng cộng là 275.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bà H1 phải trả số tiền phạt cọc là 275.000.000 đồng vì đất bà H1 bán cho ông B bị tranh chấp.

- Tại bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ngày 17/11/2022, ông B và bà H1 ký hợp đồng đặt để đảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 650m², thuộc thửa 326, tờ bản đồ 20, giá chuyển nhượng 2.650.000.000 đồng. Ngày 17/11/2022 bà H1 ký hợp đồng đặt cọc thì có mặt của những người như sau: ông B, bà H2, vợ ông B, ông T, bà C và bà H1. Thỏa thuận nội dung hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 thì ông B thỏa thuận trực tiếp với bà H1, bà H3 là người môi giới và ký tên người làm chứng, những người khác chỉ có mặt chứng kiến. Khi bà H1 nhận số tiền cọc 250.000.000 đồng thì bà H1 giao lại cho bà C, bà C có ký tên trong hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 nhưng bà C không có thỏa thuận với ông B mà là sự thỏa thuận giữa bà H1 và bà C, bà H1 không có yêu cầu gì đối với bà C trong vụ án này. Sau khi nhận cọc, bà H1 đi làm thủ tục đo đạc để tách thửa chuyển nhượng cho ông B theo thỏa thuận, thời điểm đi đo đạc ra ký nhận đất, bà H1 có gọi cho ông B nhưng ông B không đi mà nhờ bà H2 đi ký nhận đất là lỗi của ông B. Lúc đầu bà H2 không đồng ý đi ký nhận đất, bà H2 nói đi ký nhận đất không có tiền chồng nên không đi, sau đó phía bà H1 có gọi lại cho bà H2 thì bà Hiệp đồng Ý đi nhưng lúc đó tới trưa 10 giờ nên bà H1 mới nói bà H2 không phải đi nữa, bà H1 nhờ bà A đứng tên ký nhận thửa đất. Ngày 17/4/2023, bà H1 và bà A đã đến Văn phòng C1 để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất được tách ra từ thửa 326, tờ bản đồ 20 thỏa thuận chuyển nhượng cho ông B nhưng ông B không đi mà lại để bà H2 đi. Bà H1 được ủy quyền toàn quyền đối với thửa đất 326, tờ bản đồ 20 nên bà H1 phải nhờ người đứng tên đối với phần đất được tách ra từ thửa 326, chứ bà H1 không sang tên phần đất đó cho chính bà H1 được nên bà H1 có nhờ bà Lê Thị Kim A đứng tên phần đất mà thỏa thuận bán cho ông B. Ngày ra ký hợp đồng công chứng thì bà A đi và đồng ý ký tên sang nhượng phần đất trên cho ông B nhưng ông B lại để cho bà H2 đứng tên, khi đi có bà V1 vợ ông B đi cùng với bà H2 nhưng bà V1 không liên quan gì, chỉ đi theo bà H2, bà H1 vẫn đồng ý để bà H2 thay ông B ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà H2 không xuống tiền, không chịu ký hợp đồng, la lối um sùm, không cung cấp thông tin để soạn thảo hợp đồng được, sau đó bà H2 đi về. Bà H1 chờ đến tháng 11/2023 nói bà H2 không ký hợp đồng thì mất cọc ráng chịu và bà H1 đã bán thửa đất cho người khác. Bị đơn không làm sai thỏa thuận nên không đồng ý trả lại tiền cọc cho nguyên đơn. Về mặt tình cảm bị đơn bà H1 đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H2 trình bày: Bà H2 và ông B có thỏa thuận riêng về việc bà đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 236, tờ bản đồ 20, bà không trình bày ra. Ngày đi ký nhận đất thì lần thứ hai bà H3 gọi bà H2 có đi nhưng lúc chuẩn bị đi thì bà H3 gọi lại nói bà không phải đi nữa. Ngày 17/4/2023 các bên đến Văn phòng C1 thì bên đặt cọc có quyền để người khác đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử đất còn bên bán phải đúng người nhận cọc là bà H1, chứ bà H1 không đứng tên sổ đất mà đưa ra sổ đất tên người khác thì biết đất nào nên bà H2 không đồng ý ký. Đồng thời, đất đang bị tranh chấp nên bà H2 không đồng ý ký, bà H1 nói khi nào giải quyết tranh chấp xong thì ký hợp đồng nhưng nay bà H1 đã chuyển nhượng đất cho người khác. Do đất bị tranh chấp nên bà không ký hợp đồng chuyển nhượng, bà H1 vi phạm hợp đồng nên bà yêu cầu trả cọc là 275.000.000 đồng và phạt cọc 275.000.000 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T trình bày: Ông là chồng của bà H1, có chứng kiến ông B và bà H1 thỏa thuận mua bán đất nhưng ông không có liên quan gì, ông chỉ đứng tên giùm bà H1 một phần đất tách từ thửa 326, tờ bản đồ 20 để bán cho người khác nhưng không phải là phần đất bán cho ông B.

- Người làm chứng bà Lê Thị Kim A trình bày: Bà chỉ đứng tên giùm bà H1 một phần đất tách từ thửa 326, tờ bản đồ 20 để bán cho người khác. Bà có đến văn phòng C1 để ký hợp đồng theo như yêu cầu của bà H1, lần 01 không ký được đi về, bà chỉ đứng tên giùm, quyền bán là của bà H1.

- Người làm chứng bà Trịnh Thị H3 trình bày: Ngày đi đo đất, bà H1 có nhờ bà gọi bà H2 đi ký nhận đất, lần thứ nhất thì bà H2 không chịu đi vì sợ ký nhận đất phải công chứng liền thì bà H2 không chịu đi. Lần thứ hai bà H1 nhờ bà gọi lại bà H2 đi ký nhận đất rồi tới ngày ghi trong hợp đồng mới phải công chứng thì bà Hiệp đồng Ý đi thì bà H1 nhờ gọi lại nói bà H2 không phải đi nữa có người nhà bà H2 ký nhận đất rồi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với yêu cầu tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022, yêu cầu trả tiền đặt cọc 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Duy B số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi tuyên án, ngày 12 tháng 8 năm 2024 của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; ngày 21 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, sửa án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của ông Nguyễn Duy B trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Bà Nguyễn Thị D được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS10218 ngày 16/9/2022 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.643,9m² tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Ngày 22/9/2022, bà D ủy quyền toàn quyền cho bà Nguyễn Thị H1 thửa đất 236, tờ bản đồ số 20 theo Hợp đồng ủy quyền số 03290.

Ngày 19/10/2022, bà H1 ủy quyền lại cho bà Lê Thị T2 được quyền quản lý, trông coi, đo đạc, tách thửa, hợp thửa, điều chỉnh/cập nhật thay đổi diện tích và các thay đổi có liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đề nghị trích lục, trích đo thửa đất; xác nhận bất động sản; xin gia hạn thời hạn sử dụng đất; đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất.

Ngày 17/11/2022, bà H1 ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Duy B để thỏa thuận chuyển nhượng một phần thửa đất 236, tờ bản đồ số 20, diện tích 650m² (10m x 65m), trong đó có 100m² thổ cư. Giá chuyển nhượng là 2.650.000.000 đồng, ông B đã đặt cọc cho bà H1 số tiền 250.000.000 đồng, số tiền còn lại 2.400.000.000 đồng hai bên thỏa thuận sẽ thanh toán vào ngày 17/4/2023. Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận bà H1 sẽ tách diện tích 10m x 65m từ thửa 236 trong thời hạn 05 tháng, nếu bà H1 không ra được sổ thì phải đền cho ông B gấp đôi tiền đã đặt cọc.

Bà Lê Thị T2 là người được ủy quyền của bà H1 đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C1 thực hiện thủ tục tách thửa đối với thửa đất 236, tờ bản đồ số 20. Kết quả, thửa đất 236, tờ bản đồ số 20 được tách thành 03 thửa 1204, 1205, 1206 trong đó thửa 1205 (là thửa đất bà H1 cho rằng đã thỏa thuận chuyển nhượng với nguyên đơn) diện tích 646,9m², trong đó có 100m2 thổ cư được cấp cho bà Lê Thị Kim A vào ngày 21/02/2023 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS10703.

Ngày 26/02/2023, bà Nguyễn Thị D chết theo Trích lục khai tử số 105/TLKT-BS ngày 03/3/2023 của UBND xã P.

Ngày 27/02/2023, bà Nguyễn Thị H1 nhận thêm của bà Hà Thị H2 (giao cọc giùm ông B) số tiền 25.000.000 đồng.

Theo sự thừa nhận của các đương sự, ngày 17/4/2023, tại Văn phòng C1, bên bán có mặt bà Nguyễn Thị H1, bà Lê Thị Kim A bên mua ông Nguyễn Duy B không có mặt, nhưng có mặt bà Hà Thị H2, bà H1 đồng ý cho bà H2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay cho ông B. Tuy nhiên, bà H2 cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và người bán không phải đứng tên bà H1 mà là bà A, việc bà H1 tách thửa đứng tên bà A thì bà H1 không thông báo với ông B, đồng thời, trước đó, ông B được anh trai của bà H1 là ông T1 thông báo là quyền sử dụng đất đang chuyển nhượng cho ông B đang có sự tranh chấp nên bà H2 không đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng. Bà H1 cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng, bà H1 vẫn đồng ý cho bà H2 thay mặt ông B ký hợp đồng nhưng bà H2 không ký hợp đồng thì là lỗi của bên mua nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B.

Xét thấy: ngày 17/11/2022, bà H1 là người nhận 250.000.000 đồng tiền cọc của ông B, đến ngày 27/02/2025, bà H1 tiếp tục nhận 25.000.000 đồng tiền cọc của phía ông B (do bà H2 giao cọc giùm). Tuy nhiên, ngày 22/02/2023, diện tích đất mà bà H1 và ông B thỏa thuận chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Kim A. Việc bà H1 tách thửa cho bà A đứng tên diện tích đất này bà H1 không thông báo cho ông B biết. Khi bà A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa bà H1, ông B, bà A không có thỏa thuận nào khác về việc bà A sẽ tiếp tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay bà H1 nên việc bà H2 từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà A là có căn cứ. Hiện các bên không có yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà H1 cũng đã xác định tháng 11/2023, diện tích đất thỏa thuận chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 đã được chuyển nhượng cho người khác nên cần phải hủy hợp đồng đặt cọc và giải quyết hậu quả của hợp đồng này.

Xét lỗi chính dẫn đến việc hợp đồng chuyển nhượng không được thực hiện theo phân tích ở trên là từ phía bà H1 nên bà H1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền cọc đã nhận cho ông B là 250.000.000 đồng và số tiền nhận thêm 25.000.000 đồng, tổng cộng là 275.000.000 đồng.

[3] Đối với các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

[4] Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B; kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đề nghị hủy hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 và buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng và số tiền đưa thêm 25.000.000 đồng, tổng cộng 275.000.000 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm: do kháng cáo chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu.

[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương như sau:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy B đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

      Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 17/11/2022 giữa ông Nguyễn Duy B và bà Nguyễn Thị H1.

      Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại cho ông Nguyễn Duy B số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền đưa thêm 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng), tổng cộng là 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

    2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Trả lại cho ông Nguyễn Duy B số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005360 ngày 27/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo.

Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

3. Án phí phúc thẩm: Trả lại cho ông Nguyễn Duy B số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0004151 ngày 19/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - TAND huyện Phú Giáo;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 127/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger