TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2025/HS-PT
Ngày: 27/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Yên |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Ông Phan Tô Ngọc |
– Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 222/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 do có kháng kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Bị cáo Trần Văn N, sinh năm 1989 tại Bình Dương
Nơi cư trú tại địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vĩnh T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là bà Ngần Thị Trà A và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/04/2020 cho đến nay (có mặt).
Bị cáo Trần Thanh H (tên gọi khác: Hòa M) sinh năm 1992 tại Bình Phước
Nơi cư trú tại địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà Triệu Thị L; có vợ là bà Đặng Thị D và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 17/4/2023 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn N: Ông Nguyễn Văn T3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh H: Bà Trần Thị Đức H1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án này còn có đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Trần Văn N, Trần Thanh H sau khi đã có uống rất nhiều bia rượu, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04 tháng 4 năm 2020, điều khiển 02 xe mô tô cùng đi về nhà, trên đường về đi ngang qua nhà của ông Phạm Văn B và bà Ngô Thị Ngọc T4 thuộc thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước, các bị cáo thấy con gái của ông B bà T4 là chị Phạm Thị Ngọc H2 đứng rất gần với bị hại anh L1 Nhục Dìn nên cùng đuổi cả hai “Cút vô nhà” xong đi qua khoảng 10 mét thì cả 2 bị cáo điểu khiển xe quay lại chỗ chị H2 và bị hại đứng, cùng dừng xe, bị cáo Trần Văn N xuống xe đấm vào mặt bị hại, còn bị cáo Trần Thanh H thì xuống xe xô đẩy chị H2 và hỏi chị H2 “Thằng đó là thằng nào?” nhưng chị H2 không trả lời, chị H2 đẩy bị cáo Trần Thanh H ra và kéo bị hại vào trong nhà thì bị cáo Trần Thanh H hung hăng hô hét lớn tiếng nhiều lần “Tụi mày có tin tao giết tụi mày không. Tao sẽ cắt cổ hai đứa mày” và cùng bị cáo Trần Văn N đuổi theo bị hại và chị H2 vào đến trong nhà để đánh bị hại cho bằng được nhưng gặp phải ông Phạm Văn B bà Ngô Thị Ngọc T4 can ngăn đẩy 2 bị cáo ra ngoài cổng nhà. Khi ra đến ngoài cổng nhà 2 bị cáo vẫn không chịu về mà vẫn đứng ở ngoài liên tục chửi, đòi đánh và giết bị hại Lầm Nhục D1 và chị H2. Khoảng 2 phút sau, ngay khi anh L1 Nhục Dưỡng là anh trai của bị hại đến can ngăn thì bị cáo Trần Thanh H với thái độ rất hung hăng hô hét lớn tiếng là “Tao giết mày” nhiều lần rồi lao vào đánh anh D2 trước, rồi bị cáo Trần Văn N cũng lao vào đánh anh D2, bị hại thấy anh trai mình bị đánh nên từ trong nhà chạy ra, khi chạy ra tới sân thì bị cáo Trần Văn N lấy cây tuýp sắt tại chỗ đánh rất mạnh trúng vào đầu bị hại làm bị hại ngất xỉu tại chỗ, ông Phạm Văn B nhảy vào can ngăn và giật được cây tuýp sắt trên từ bị cáo Trần Văn N thì bị cáo Trần Văn N bỏ chạy, còn bị cáo Trần Thanh H bị giữ lại. Sau khi cùng bị cáo Trần Văn N gây án, bị hại bị đánh ngất xỉu tại chỗ và đang bị giữ lại tại nhà ông Phạm Văn B thì bị cáo Trần Thanh H còn hung hăng, lớn tiếng đe doạ giết tất cả nhà ông Phạm Văn B bà Ngô Thị Ngọc T4.
Thu giữ vật chứng: 01 cây tuýp kim loại đã cũ có chiều dài 81cm, đường kính 2,5cm; 01 cái nón bảo hiểm màu đen được niêm phong trong 01 thùng xốp hình hộp có kích thước (29 x 38 x 27)cm; 02 cái thau nhựa, mỗi cái có kích thước (55 x 43 x 27)cm, 01 cái bị vỡ miệng thau và nứt đáy thau; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Superdream, biển kiểm soát 93P1 – 614.04, số máy 1048173, số khung 040245, kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 061738 mang tên Trần Văn T2.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 105/GĐPY ngày 15 tháng 5 năm 2020 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Lầm Nhục D1, sinh năm 1998 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, giập não xuất huyết, đã được phẫu thuật cấp cứu nhưng hôn mê sâu không hồi phục dẫn đến tử vong.”
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 82A/2021-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh B kết luận đối với vật chứng là 01 cây tuýp trụ tròn, bề mặt nhẵn, dài 81cm, đường kính 2,5cm:
“1. Đoạn tuýp (vật chứng giám định) trong tư thế thực nghiệm điều tra theo mô tả của Trần Văn N và Trần Thanh H (biên bản thực nghiệm điều tra hồi 9 giờ 00 phút ngày 19/3/2021, ảnh từ 25 đến 28) khi tác động vào cơ thể có thể gây ra được thương tích vùng đầu của Lầm Nhục D1.
2. Đoạn tuýp (vật chứng giám định) trong tư thế thực nghiệm điều tra theo mô tả của các nhân chứng B, T4, D2, L2 và H2 (biên bản thực nghiệm điều tra hồi 09 giờ 00 phút ngày 19/3/2021, ảnh từ 66 đến 79) khi tác động vào cơ thể có thể gây ra được thương tích vùng đầu của Lầm Nhục D1 (trong hai tình huống trên thì tư thế 1 phù hợp hơn)”
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSBP-P1 ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Trần Văn N, Trần Thanh H cùng về tội giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước quyết định:
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn N, Trần Thanh H cùng phạm tội Giết người.
Về áp dụng điều luật và hình phạt:
2.1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm e, p khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 20 (hai mươi) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 13/4/2020.
2.2. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm e, p khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 19 (mười chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/4/2023.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06-02-2024, bị cáo Trần Thanh H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 07-02-204, bị cáo Trần Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Văn N, Trần Thanh H và các luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án hình sự sơ thẩm, giao hồ sơ về cho cơ quan điều tra lại vụ án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị chấp nhận không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H giảm hình phạt cho bị cáo từ 01 đến 02 năm tù và sửa bán án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo H.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về hình thức đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo Trần Văn N bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ vụ án.
Bị cáo Trần Thanh H bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ vụ án.
[1] Nội dung vụ án: vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04 tháng 4 năm 2020, các bị cáo sau khi uống rượu trên đường về nhà, khi đi đến nhà ông Phạm Văn B tại thôn H xã T huyện B thì H và N thấy Lầm Nhục D1 và chị Phạm Thị Ngọc H2 đang đứng nói chuyện trước cổng nhà ông B. N và H chọc ghẹo và nói “Muộn rồi đi ngủ đi” thì D1 chửi lại, nghe vậy H và N quay xe lại đến gần chỗ D1 đứng và xuống xe hỏi “Mày chửi ai vậy” rồi N dùng tay phải đấm vào mặt D1 một cái, còn H xô đẩy H2 lùi lại. Sau đó N dùng mũ bảo hiểm đánh D1 thì D1 lấy mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đỡ lại rồi H2 nắm tay D1 chạy vào trong nhà ông B trốn. N và H đuổi theo, H cầm thau nhựa chạy vào trong phòng khách, N cầm mũ bảo hiểm đứng ngay cửa chính. Ông B và vợ là bà T4 từ phía sau nhà đi lên thấy vậy can ngăn, ông B đẩy H còn bà T4 đẩy N ra đến sân thì H và N vứt mũ bảo hiểm và thau xuống sân. Trong lúc ông B và bà T4 đẩy N và H ra cổng thì D1 gọi điện thoại cho anh ruột tên Lầm Nhục D2 nói việc bị N và H đánh rồi D1 và chị H2 cũng đi ra cổng đứng.
Khi ra đến cổng N và H không chịu về mà đứng ở ngoài tiếp tục chửi và đòi đánh D1. Nghe D1 nói bị đánh thì D2 điều khiển xe mô tô đến cổng nhà ông B, thấy N và H nên D2 xuống xe đến nói chuyện với N “Chuyện của tao và mày đã xong rồi sao mày đánh em tao” Nam không nói gì và đi ra gần xe mô tô của H đứng. H chửi nhau với D2 và nói “Tao giết mày” thì D2 nói “chuyện của tao không liên quan đến mày”, H đẩy ông B qua một bên rồi lao vào đánh nhau với D2. Thấy vậy D1 chạy từ trong sân (sát cổng) ra đánh H thì N cũng chạy đến đấy và đánh nhau với D1. H, N, D1 và D2 đánh nhau, vừa đánh vừa lùi vào trong sân nhà ông B. D2 và H giằng co với nhau ngoài hiên nhà. Khi D1 đánh nhau với N thì N cầm cây tuýp sắt đánh 01 cái từ trên xuống vào đầu D1, D1 lùi lại khoảng 2-3 bước thì ngã nằm xuống hiên nhà và tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 105/GĐPY ngày 15/5/2020 của Phòng K công an tỉnh B kết luận: “Lầm Nhục D1, sinh năm 1998 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, giập não xuất huyết, đã được phẫu thuật cấp cứu nhưng hôn mê sâu không phục hồi dẫn đến tử vong”.
Hành vi của bị cáo Trần Văn N và bị cáo Trần Thanh H đã bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 19 và 18 năm tù về tội “Giết người” có tính chất côn đồ, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ Luật hình sự 2015.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử:
Thứ nhất về tội danh “Giết người” đối với bị cáo Trần Văn N là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ cái chết của bị hại Lầm Nhục Dìn là do bị cáo N trực tiếp gây ra bằng cây tuýp sắt.
Về tội danh “Giết người” mà cấp sơ thẩm quy buộc đối với bị cáo Trần Thanh H thì thấy chưa có cơ sở vững chắc theo quy định của pháp luật, bởi lẽ:
Căn cứ vào biên bản thực nghiệm điều tra ngày 21 tháng 10 năm 2022, tại Thôn H, xã T huyện B tỉnh Bình Phước có đầy đủ những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong đó có Lầm Nhục Dưỡng đã thể hiện: “...D2 đi xe mô tô đến tay trái cầm tuýp rồi xuống xe, N đi đến cách D2 là 01m nói “Anh em không mà cầm gậy làm gì”, D2 nói “Chuyện của tao và mày xong rồi sao mày đánh em tao”, N không nói gì mà đi ra chỗ xe của H đứng, cách D2 là 06m. H đi đến cách D2 là 1,5m và chửi nhau với D2, D2 cầm tuýp bằng tay phải chỉ vào mặt H nói “chuyện của tao không liên quan đến mày”. H chỉ tay vào D2 nói “Mày thích đánh nhau à, tao giết mày” rồi lao vào đánh D2 (đánh trúng vị trí nào thì không xác định được) thì D2 cầm tuýp đập một cái vào vai phải, một cái vào đùi trái của H, vị trí cách Nam 6,5m.
Dìn chạy từ trong sân ra lao vào đánh H 01 cái vào mặt thì N chạy đến xô và đánh D1. H bị đánh đau nên lùi vào sân và đi về hiên nhà ông B thì L2 đứng can H. N quay qua định đánh D2 thì bị D2 cầm tuýp đập một cái từ trên xuống, N đưa tay phải lên đỡ và nắm được một đầu cây tuýp. N và D2 giằng co cây tuýp vào đến cách hiên nhà 5,2m thì N giật được cây tuýp nên D2 bỏ chạy về hướng bàn ghế đá, D1 chạy từ hướng bàn ghế đá đến gần và đối diện với N, cách N là 01m thì N cầm tuýp bằng tay phải đưa lên cao đập một cái trúng vào đầu D1, D1 lùi lại khoảng 03 bước thì té ngã ngửa ra hiên nhà. N cầm tuýp chạy ngược ra hướng cổng, cách hiên nhà là 5,7m thì ông B chạy từ hướng cổng vào giật được cây tuýp N cầm rồi N bỏ chạy ra cổng.
Trong lúc N cầm tuýp đập vào đầu D1 thì D2 vật H xuống hiên nhà cách chỗ D1 nằm là 1,8m, ngồi đè lên người Hòa khống chế. Sau đó bà T4 đến lôi D2 ra khỏi người H, sau đó D2 và một số người đưa D1 đi cấp cứu”.
Qua thực nghiệm điều tra thể hiện: bị cáo H không chuẩn bị hung khí, không bàn bạc với bị cáo N tấn công bị hại D1, bị cáo H không tham gia đánh bị hại D1. Cái chết của bị hại D1 là do bị cáo N gây ra. Khi Trần Văn N cầm cây tuýp bằng kim loại đánh Lầm N tử vong thì Trần Thanh H đang bị D2 khống chế nằm dưới đất (H không có lời nói kích động N đánh D1) và N cầm tuýp đánh D1 tử vong là ngoài ý thức chủ quan của H, do hành vi thái quá của N gây ra. Do đó hành vi của Trần Thanh H không đồng phạm với Trần Văn N về tội “Giết người” nhưng cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo Hòa đồng P cùng bị cáo N gây ra cái chết của bị hại là không có căn cứ pháp luật. Cấp sơ thẩm quy buộc bị cáo H là đồng phạm là chưa có căn cứ.
Thứ hai cấp sơ thẩm chưa làm rõ vật chứng trong vụ án này là cây tuýp bằng kim loại gây ra cái chết cho bị hại D1 ở đâu mà có, do N và H chuẩn bị sẵn hay do anh Lầm Nhục D2 (anh bị hại ) mang đến hoặc được lấy từ nhà của ông B bà T4. Nhưng thực tế cây tuýp sắt do L1 Nhục Dưỡng mang đến nên bị cáo N mới giằng co giật được từ Lầm N và Lầm Nhục Dưỡng sau khi bị giặt cây tuýp thì bỏ chạy và bị hại D1 chạy lại nên bị Trần Văn N đánh mạnh một cái vào đầu dẫn đến tử vong.
Lời khai tại Biên bản thực nghiệm điều tra phù hợp với thương tích trên cơ thể của bị cáo N và bị cáo H. Phù hợp với Kết luận giám định thương tích trên vai phải của bị cáo H, cánh tay phải của bị cáo N là do đoạn tuýp sắt gây ra. Thương tích này do Lầm Nhục D2 gây ra nhưng cấp sơ thẩm không xử lý về hành vi gây thương tích của L1 Nhục Dưỡng đối với bị cáo N và H là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Đây là thiếu sót nghiêm trọng của cơ quan tiến tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Ngoài những sai sót trên, cấp sơ thẩm còn áp dụng 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” và “có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm” quy định tại điểm e và điểm p khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 là chưa có căn cứ vững chắc gây bất lợi cho bị cáo.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về nội dung và thủ tục tố tụng, đồng thời chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo hủy bán án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử lại theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giảm án cho bị cáo H không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn N; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H (H mát).
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước để điều tra, truy tố và xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Văn N, Trần Thanh H (H mát) cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước thụ lý lại vụ án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Văn N và Trần Thanh H không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| Hoàng Thanh Dũng | Phan Văn Yên |
| Phan Tô Ngọc |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 127/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm (tội giết người)
- Số bản án: 127/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn N; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H (H mát). Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước để điều tra, truy tố và xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
