Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trần Ngọc Đổi
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2024/TLST-HS, ngày 34 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Ức Xuân K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1994, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Ra Glai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ức Xuân T và bà Lê Thị S; có vợ là Trần Thị P và 02 người con; tiền án: Tại Bản án số 82/2014/HSST ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/01/2016, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/7/2024 cho đến nay (có mặt).

  2. Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: Xe), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1992, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lương Thị M; có vợ là Mơ H và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 01/2011/HSST ngày 19/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/8/2015 và đã chấp hành xong các phần khác của bản án; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/7/2024 cho đến nay (có mặt).

  3. Võ Tuấn T2 (Tên gọi khác: M1), sinh ngày 24 tháng 4 năm 2001, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đức B và bà Sơn Thị H1; có vợ là Trần Thị B1 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/7/2024 cho đến nay (có mặt).

  4. K'Ven, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1995, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Ra Glai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông K1 và bà Trần Thị Đ1; có vợ là K’Thị H2 và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 09/2014/HSST ngày 10/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/10/2014 và đã chấp hành xong các phần khác của bản án; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

  5. Mang Q (Tên gọi khác: Chó M2), sinh ngày 02 tháng 10 năm 1995, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Tổ tự quản số A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Ra Glai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mang Đ2 và bà Đào Thị M3; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

  6. Chềnh Hính C1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2000, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chềnh Xí C và bà Lưu Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Ức Xuân K: Ông Nguyễn Trường D là Trợ giúp viên pháp lý (có mặt).

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.

- Bị hại: Nguyễn Thành Đ3, sinh năm 1994 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Văn T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)

2

Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/10/2020, Tưởng Văn G gọi điện rủ Ức Xuân K, Mang Q (thường gọi là Chó M2), K2, Võ Tuấn T2 (thường gọi là Mơ), Chềnh Hính C1, Nguyễn Văn T1 và một người tên Ẹ (không rõ nhân thân, lai lịch) tới nhà của G ở thôn K, xã P để nhậu. Khi tới nhà G để nhậu thì K mang theo 01 cây dao tự tạo có chiều dài khoảng 60cm, phần cán bằng gỗ màu đỏ dài khoảng gần 20cm, lưỡi bằng lam máy cưa màu đen dài khoảng 40cm, mũi dao vát xéo nhọn ở đầu mũi. T1 chở C1 mang tới 02 cây dao tự tạo màu đen đều dài khoảng 80cm, phần cán bằng sắt màu đen dài khoảng 20cm, phần lưỡi dao dài khoảng 60cm, mũi dao vát xéo. Sau khi nhậu tại nhà của G xong thì anh rể của K là Văn L gọi điện rủ K đi qua nhà L nhậu nên K rủ Q, T2, V, C1, T1 đi qua nhà L để nhậu tiếp. Do G và Ẹ đã nhậu say nên G và Ẹ không đi. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô chở K, Q điều khiển xe mô tô chở K2 và T1 điều khiển xe mô tô chở C1 để đến nhà L. Trước khi qua nhà L thì nhóm của K chạy xe tới nhà của K để cất 03 cây dao tự tạo rồi mới chạy tới nhà L để nhậu. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày 22/10/2020, do hết rượu nên K kêu T2 đi mua rượu về uống tiếp. Khi T2 lấy xe đi mua rượu thì gặp Nguyễn Anh T4 (hiện đang ở nhà đối diện nhà L) nên T2 dừng xe lại để đòi T4 số tiền 600.000 đồng (do trước đây T2 và T4 cùng đi làm mướn sau đó T2 gửi lại cho T4 giữ), T4 nói chỉ còn 400.000 đồng và đưa cho T2, số tiền 200.000 đồng còn lại T4 nói với T2 sẽ trả sau. T2 đi mua rượu, rồi quay lại nhà của L để nhậu tiếp. Trong lúc nhậu, T2 kể lại chuyện gặp T4 và đòi tiền T4 cho những người trong bàn nhậu nghe. Khi nghe T2 nói xong, K nói là qua gặp T4 để nói chuyện. K kêu V, C1, T1 cùng đi về nhà K cách nhà L khoảng 20m lấy 03 cây dao tự tạo mà K và T1 vừa giấu trước đó để đi qua đánh T4. K, T1 và C1 đi ra hàng rào lấy 03 cây dao tự tạo, còn K' V lấy từ trong người ra 01 cây gậy sắt ba khúc dài khoảng 60cm. Sau khi lấy hung khí xong thì nhóm của K qua bên nhà T4 để đánh T4. Đứng nói chuyện với T4 được một lúc thì K, C1, T1 mỗi người cầm 01 cây dao tự tạo, K' Ven cầm 01 cây gậy sắt ba khúc đuổi đánh T4 nhưng T4 bỏ chạy ra phía sau nhà chạy thoát được. Không đánh được T4 nên nhóm của K qua nhà L nhậu tiếp.

Khoảng 15 phút sau, nhóm của K đi về Thôn T, xã P để về nhà. Khi đi từ trong Thôn K đi ra thì nhóm của K gặp Nguyễn Thành Đ3 đi xe mô tô cùng với 02 người bạn của Đ3 (không rõ nhân thân) tới gặp nhóm của K. K và Đ3 nói chuyện về việc nhóm của K đi qua đánh T4 thì có rượt đuổi đánh em vợ của Đ3 nhưng K không thừa nhận. Nói chuyện được khoảng 20 phút, giữa K và Đ3 xảy ra mâu thuẫn và lao vào tính đánh nhau thì được can ngăn. Đ3 và bạn của Đ3 chạy xe về

3

nhà của Đ3 ở cách đó khoảng 60m, còn K rủ T1, Quyền, T2, K' Ven, C1 đi ra quán N1 ở khu vực dốc đá thuộc xã P để nhậu tiếp. Nhậu được khoảng 30 phút, K nói là “Đi vô kiếm thằng Đ3 để nói chuyện sao nó kêu tao rượt em vợ của nó”, nghe K nói như vậy thì T1 hỏi lại K là “Đi vô đó làm gì nữa?”, lúc này K bực tức nói tiếp “Tao tức, tao không rượt mà Đ3 kêu tao rượt” rồi K hỏi lại “tụi mày có đi không?”, khi nghe K nói như vậy thì T1, Q, T2, K2, C1 đều đồng ý và nói là “đi”. K nói tiếp “cầm hàng đi luôn, lỡ vào đó mà thằng Đ3 có chém thì chém lại luôn”. Khi đi thì Mang Quyền chạy xe của K' Ven chở K' Ven cầm cây gậy sắt ba khúc để ở túi trước ngực của K' Ven, C1 chở T1 ngồi sau để T1 cầm theo 03 cây dao tự tạo, T2 chở K ngồi phía sau. Khi K, T1, Q, T2, K' Ven, C1 vừa đi qua đầu cầu S để vào Thôn K thì bị nhóm của Đ3 ném đá nên nhóm của K quay đầu lại và dựng xe ở giữa cầu S, rồi đi bộ đến Thôn K. Lúc này, T1 đưa 01 cây dao tự tạo dài 60cm cho K cầm, còn 02 cây dao tự tạo dài 80cm thì T1 vẫn cầm trên người, K' Ven cầm cây gậy sắt ba khúc. Khi đi qua cầu S khoảng 50m thì K, T1, Quyền, T2, K' Ven, C1 thấy Đ3 cầm theo 01 cây rựa dài khoảng 55cm, cán bằng tre dài khoảng 25cm, phần bản lưỡi bằng sắt màu đen rộng khoảng 04cm, phần lưỡi rựa dài khoảng 30m có phần mũi nhọn cong móc lại và nhọn ở đầu. Đ3 cầm cây rựa trên bước tới chỗ nhóm của K, ngoài Đ3 ra thì lúc này còn có khoảng gần 20 người nữa cầm theo khúc cây, dao tự tạo, rựa, đá, ná đứng ngay sau Đ3. K và Đ3 bước tới đứng đối diện cách nhau khoảng 03m nói chuyện với nhau. Đ3 hỏi K là sao lại rượt đánh em của Đ3 thì K nói với Đ3 là “tao không có rượt em mày mà sao mày kêu tao rượt em mày”, khi K nói như vậy thì Đ3 kêu Văn T3 (là anh vợ của Đ3) ra và nói là K, K' Ven và C1 đã rượt đánh Văn T5 (là em ruột của T3). Lúc này, K' Ven đứng phía sau cách K khoảng 03m cầm cây gậy sắt ba khúc bằng tay phải nhào tới vung lên cao đập xuống khoảng 04 hay 05 cái vào người T3 trúng vào tay nên T3 ôm tay và lùi lại. Sau đó, nhóm của K và nhóm của Đ3 lao vào đánh nhau nhưng do bị ném đá nên nhóm của K lùi lại về giữa cầu S. Đ3 cầm cây rựa trên bằng hai tay đi tới chém vài cái vào đầu xe của Mang Quyền và của K và đạp ngã xe của K. Mang Quyền đang đứng ở gần đó nên Đ3 nắm cổ áo lại rồi kề cây rựa vào cổ Mang Q và nói là “hôm nay tao giết mày”. Lúc này, K cầm cây dao tự tạo trên bằng tay phải bước tới đứng đối diện cách Đ3 khoảng gần 02m theo hướng hơi xiên qua một bên, thấy Đ3 không để ý nên M4 Quyền đẩy Đ3 ra rồi bỏ chạy ra đứng sau lưng cách K khoảng 01m. K nói với Đ3 là “tôi làm gì mà bạn đập xe tôi vậy?”, khi Đ3 vừa nói với K là “tao nhịn mày lâu lắm rồi” thì Đ3 cầm cây rựa trên bằng tay phải vung lên cao và chém K một nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào người K, thấy Đ3 vung rựa lên để chém mình thì K đưa tay trái lên để đỡ nên bị thương tích ở mặt sau cẳng tay trái. Ngay sau đó K cầm cây dao tự tạo trên bằng tay phải vung lên ngang đầu chém theo hướng xiên từ phải qua trái trúng vào mặt trước 1/3 dưới cẳng tay phải của Đ3. Sau đó K bị té ngã ngửa ra sau, Đ3 cầm cây rựa trên nhào tới tính chém K tiếp thì T2 lúc này đứng ở phía sau bên vai phải và cách K khoảng 03m thấy vậy liền giật 01 cây dao tự tạo dài khoảng 80cm mà T1 đang cầm nhào tới

4

đứng đối diện cách Đ3 khoảng 01m. T2 vung cây dao tự tạo trên lên cao quá đầu và chém 01 nhát theo hướng thẳng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh chẩm trái của Đ3. Khi bị T2 chém trúng một nhát thì Đ3 la lên là “tao bị chém rồi” và lùi lại bị vấp vào xe mô tô nên bị té nằm ngửa ra đường. T1 đứng cách Đ3 khoảng 02m cầm cây dao tự tạo dài khoảng 80cm còn lại bằng tay phải nhào tới đứng đối diện cách Đ3 khoảng 50cm (đứng ngay chân của Đ3), T1 vung cây dao tự tạo trên lên cao quá đầu và cúi xuống chém 02 nhát theo hướng thẳng từ trên xuống dưới vào người Đ3, Đ3 bị ngã ngửa nên đưa thẳng hai chân lên để đỡ thì bị T1 chém trúng 02 nhát trong đó 01 nhát trúng vào mặt ngoài khoeo chân phải, 01 nhát trúng vào mu bàn chân phải. Lúc này, Mang Q và C2 Hính C1 nhặt đá và khúc cây ở đầu cầu ném lại về phía nhóm của Đ3. Sau đó, do bên phía Đ3 ném đá nhiều nên T1, Q, T2, K' Ven, C1 bỏ chạy chỉ còn lại K lúc này vẫn đang bám vào thành cầu. Do K cũng là người của Thôn K nên những người bên phía nhóm của Đ3 không đánh K nữa và để K đi.

*Ngày 24/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Thành Đ3. Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 155/2021/TgT ngày 07 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:

  • Vết thương vùng đỉnh chẩm trái, lún nứt bản ngoài xương sọ đã được điều trị hiện ổn định, để lại sẹo, kích thước: 1,5 x 0,4 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 8% +1%.
  • Vết thương phần mềm mặt trước 1/3 dưới cẳng tay phải, đã được điều trị hiện để lại sẹo, kích thước: 3,5 x 0,5 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
  • Vết thương phần mềm mặt ngoài khoeo chân phải, đã được điều trị hiện để lại sẹo, kích thước: 6,5 x 1 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
  • Vết thương phần mềm mu bàn chân phải, đã được điều trị hiện để lại sẹo, kích thước: 7,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 15% (Một năm phần trăm).

  • Các vết thương do vật sắc gây ra.
  • Vết thương vùng đỉnh chẩm trái có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới; Vết thương cẳng tay phải, khoeo chân phải, bàn chân phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; với lực tác động trung bình.

*Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định thương tích đối với Ức Xuân K. Tại Bản Kết luận Giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 410/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 10 tháng 5 năm 2024 của trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận:

5

  • Vết thương 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo hình cung kích thước: (3,5 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
  • Chấn thương ngực trái, cánh tay trái hiện không để lại dấu vết. Không đủ ca sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Kết luận:

  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn tương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phầm trăm tổn thương cơ thể của ông Ức Xuân K tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • Vết thương do vật sắc gây ra.
  • Vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Ngày 22/10/2020, Công an xã P đã lập biên bản tạm giữ: 01 (Một) xe mô tô không có biển số màu hồng, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, số máy 5C6H244540, số khung RLCS5C6HOGY244527 của Ức Xuân K; 01 (Một) xe mô tô màu đen không có biển số, số máy VMSA4A-H202413 của K' Ven và 01 (Một) xe mô tô biển số 86S1-5985, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius của Chềnh H.

Qua điều tra, Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K' Ven và bị hại Nguyễn Thành Đ3 khai báo các hung khí dùng để gây án là 03 cây dao tự tạo, 01 cái rựa và 01 cây gậy sắt ba khúc sau khi sử dụng để đánh gây thương tích vào ngày 22/10/2020 thì đều bị rơi và bỏ lại tại hiện trường. Hiện Cơ quan điều tra không thu giữ được các hung khí trên.

Đối với thương tích của Văn T3, do bị thương tích nhẹ nên T3 không yêu cầu giám định thương tích.

Đối với thương tích 02% của Ức Xuân K do Đ3 gây ra, ngày 08/8/2024 K đã làm đơn bãi nại và đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, nên Cơ quan điều tra không khởi tố Đ3.

Đối với xe mô tô biển số 86S1-5985, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius của Chềnh Hính C1 có liên quan đến trộm cắp tài sản; 01 (Một) xe mô tô không có biển số màu hồng, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, số máy 5C6H244540, số khung RLCS5C6HOGY244527 của Ức Xuân K; 01 (Một) xe mô tô màu đen không có biển số, số máy VMSA4A-H202413 của K' Ven, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục tạm giữ để xử lý.

Về tang, vật chứng của vụ án: Không

6

Về phần dân sự: Nguyễn Thành Đ3 yêu cầu nhóm của Ức Xuân K bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, nhóm của K đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự số tiền 6.000.000 đồng, Đ3 đã làm đơn bãi nại. Ức Xuân K không yêu cầu bồi thường.

*Tại Cáo trạng số 122/CT-VKSBB ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K2, Mang Q và Chềnh Hính C1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K2, Mang Quyền và Chềnh H3 C1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Ức Xuân K mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Võ Tuấn T2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo K2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Mang Quyền mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

7

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Chềnh Hính C1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.

- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Ức Xuân K: Thống nhất như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của bị hại: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, yêu cầu nhóm của bị cáo Ức Xuân K bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người làm chứng Văn Thịnh: Quá trình điều tra, người làm chứng Văn Thịnh đã có lời khai nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Do có mâu thuẫn từ việc tranh cãi do bị hại Nguyễn Thành Đ3 cho rằng nhóm của bị cáo Ức Xuân K đuổi đánh em vợ của Đ3 khiến bị cáo K tức giận nên bị cáo K đã rủ các bị cáo Võ Tuấn T2, Nguyễn Văn T1, Mang Quyền, K2, C C1 tìm gặp Đ3. Khi đi thì nhóm của bị cáo K cầm theo các hung khí nguy hiểm là 03 cây dao tự tạo và 01 cây gậy sắt ba khúc.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/10/2020, tại Thôn K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận, khi gặp nhóm của Đ3 thì bị cáo T1 đưa 01 cây dao tự tạo dài 60cm

8

cho bị cáo K cầm, bị cáo T1 cầm 02 cây dao tự tạo dài 80cm, bị cáo K' Ven cầm cây gậy sắt ba khúc, trong khi đó bị hại Đ3 cũng cầm 01 cây rựa dài khoảng 55cm. Khi gặp nhau, trong lúc hai bên đang tranh cãi thì bị cáo K' Ven cầm cây gậy sắt ba khúc đập khoảng 04 đến 05 cái trúng vào tay của Văn T3 là người trong nhóm của bị hại Đ3. Sau đó, nhóm của K và nhóm của Đ3 lao vào đánh nhau. Bị hại Đ3 cầm cây rựa chém bị cáo K trúng mặt sau cẳng tay trái khiến bị cáo K bị thương tích 2%, bị cáo K cũng dùng cây dao tự tạo chém trúng cánh tay của bị hại Đ3. Sau đó bị cáo K bị té ngã ngửa ra sau, bị hại Đ3 cầm cây rựa trên nhào tới tính chém bị cáo Khánh tiếp thì bị cáo Võ Tuấn T2 thấy vậy liền giật 01 cây dao tự tạo dài khoảng 80cm mà T1 đang cầm nhào tới chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh chẩm trái của Đ3. Đ3 liền la lên, lùi lại bị vấp vào xe mô tô nên bị té nằm ngửa ra đường, thấy vậy bị cáo Nguyễn Văn T1 cầm cây dao tự tạo dài khoảng 80cm còn lại chém 02 nhát, trong đó 01 nhát trúng vào mặt ngoài khoeo chân phải, 01 nhát trúng vào mu bàn chân phải. Cùng lúc đó, Mang Quyền và Chềnh Hính C1 cũng hỗ trợ, giúp sức bằng cách nhặt đá và khúc cây ở đầu cầu ném lại về phía nhóm của Đ3. Hậu quả bị hại Đ3 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.

Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công chặt chẽ nên các bị cáo là đồng phạm giản đơn trong vụ án.

Trong vụ án này, bị cáo Võ Tuấn T2 có hành vi cầm cây dao tự tạo chém 01 nhát trúng vào vùng đỉnh chẩm trái của Đ3 là vùng trọng yếu trên cơ thể, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8% +1% nhưng có lực tác động trung bình, xét điều kiện và hoàn cảnh lúc đó thì do bị hại Đ3 đang trên đà nhào tới chém bị cáo K khi bị cáo K đang té ngã ra đất, bị cáo T2 thấy vậy nên mới giật 01 cây dao tự tạo của bị cáo T1 và chém vào bị hại Đ3 với mong muốn giải cứu cho bị cáo K khi bị cáo K đang trong tình thế nguy hiểm. Sau đó bị cáo T2 đã ngay lập tức dừng hành vi lại, không tấn công bị hại Đ3 nữa, như vậy tính chất, mức độ, cường độ hành vi của bị cáo T2 không thể hiện sự hung hãn, quyết liệt, không thể hiện mục đích mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại Đ3. Tại phiên tòa, bị hại Đ3 cũng xác nhận sức khỏe hiện tại bình thường, vẫn lao động, sinh hoạt như trước đây, việc Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, bị hại Đ3 không có ý kiến gì khác. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

Với hành vi đã phân tích như trên, việc các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% cho bị hại Đ3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm

9

sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Ức Xuân Khánh thành K4 khai báo, đã bồi thường cho bị hại; bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Võ Tuấn T2 thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt, bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn T1, K’Ven thành khẩn khai báo, bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Mang Q, Chềnh H3 C1 thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho bị hại; có nhân thân tốt, bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Ức Xuân K đã bị xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 82/2014/HSST ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

Ngoài ra, bị cáo Ức Xuân K đã bị Tòa án xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn T1 đã bị Tòa án xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”; bị cáo K2 đã bị Tòa án xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Bên cạnh đó, trong vụ án này, bị cáo Ức Xuân K là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác; các bị cáo Ức Xuân K, Võ Tuấn T2, Nguyễn Văn T1 là người thực

10

hành gây ra thương tích cho bị hại Đ3; các bị cáo K2, Mang Quyền, Chềnh H tham gia hỗ trợ, giúp sức tích cực cho các bị cáo khác.

Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc dành cho bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, các bị cáo Mang Quyền, Chềnh Hính C1 là đồng phạm giúp sức, có hành vi, vai trò hạn chế hơn các bị cáo khác; các bị cáo Mang Q, Chềnh H có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử các bị cáo Mang Quyền, Chềnh Hính Cường dưới khung hình phạt của khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[7] Ngoài ra, đối với thương tích 02% của bị cáo Ức Xuân K do bị hại Đ3 gây ra: Ngày 08/8/2024, bị cáo K đã làm đơn bãi nại và đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan điều tra không khởi tố Đ3 là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành Đ3 yêu cầu nhóm của bị cáo Ức Xuân K bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Các bị cáo Ức Xuân K, Mang Quyền, Chềnh Hính C1 đã nộp số tiền 6.000.000 đồng (mỗi bị cáo nộp 2.000.000 đồng) vào tài khoản số [...] của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo giấy nộp tiền ngày 04/5/2024, bị hại Đ3 đã làm đơn bãi nại và không có yêu cầu gì khác. Bị cáo Ức Xuân K cũng không yêu cầu bồi thường đối với hành vi gây thương tích của bị hại Đ3 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô biển số 86S1-5985, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius của Chềnh Hính C1 có liên quan đến trộm cắp tài sản; 01 xe mô tô không có biển số màu hồng, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, số máy 5C6H244540, số khung RLCS5C6HOGY244527 của bị cáo Ức Xuân K; 01 xe mô tô màu đen không có biển số, số máy VMSA4A-H202413 của bị cáo K2: Cơ quan điều tra chưa làm việc được với người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xử lý là có căn cứ.

Ngoài ra, sau khi các bị cáo và bị hại sử dụng 03 cây dao tự tạo, 01 cây gậy sắt ba khúc và 01 cây rựa để đánh nhau vào ngày 22/10/2020 thì đều bị rơi và bỏ lại tại hiện trường. Cơ quan điều tra không thu giữ được các hung khí trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí: Mỗi bị cáo Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K2, Mang Q và Chềnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

11

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Các bị cáo Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K2, Mang Quyền và Chềnh H3 C1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Ức Xuân K 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08 tháng 7 năm 2024.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02 tháng 7 năm 2024.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Võ Tuấn T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09 tháng 7 năm 2024.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo K2 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Mang Quyền 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Chềnh Hính C1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

12

Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị hại Nguyễn Thành Đ3 yêu cầu nhóm của bị cáo Ức Xuân K bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Các bị cáo Ức Xuân K, Mang Quyền, Chềnh Hính C1 đã nộp số tiền 6.000.000 đồng (mỗi bị cáo nộp 2.000.000 đồng) vào tài khoản số [...] của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo giấy nộp tiền ngày 04/5/2024 để bồi thường cho bị hại Đ3, do đó cần tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo Ức Xuân K, Nguyễn Văn T1, Võ Tuấn T2, K2, Mang Q và Chềnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Nơi giam giữ các bị cáo;
  • - Bị cáo; bị hại; người bào chữa;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hoàng Huy

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ức Xuân Kh cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger