Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HSST

Ngày: 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Thị Lan;

2/ Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 22/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXX ngày 08/11/2024, đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn H; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 22/02/1994; Nơi cư trú: Xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Đặng Văn T, sinh năm 1959; con bà: Chu Thị N, sinh năm 1962, đều trú tại xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có 04 anh, chị, em, H là con thứ tư; Vợ, con: Không có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 03 ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đặng Văn H 12 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. H chấp hành xong Bản án ngày 27/12/2019. Bản án đã được xóa án tích.

Biện pháp ngăn chặn: Đặng Văn H bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Tuấn T1; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 28/11/1994.

Nơi cư trú: Xóm N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán dìu; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Quốc L, sinh năm 1965. Con bà: Dương Thị C, sinh năm 1972, đều trú tại xóm N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Không

Tiền án, tiền sự: Không

Biện pháp ngăn chặn: Phạm Tuấn T1 bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị Q, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: Xóm H, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Phan Triệu T2, sinh năm 1975; (Có mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm H, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Anh Trần Văn B, sinh năm 1995;

Nơi cư trú: Xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(bà Q, anh B có đơn vắng mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

- Chị Y H1, sinh năm 2003;

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

- Chị Y M, sinh năm 2005;

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

- Người chứng kiến:

- Bà Trần Thị T3, sinh năm 1954;

Nơi cư trú: Xóm H, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 30 phút ngày 19/05/2024 Công an huyện Đ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại quán K1 thuộc xóm H, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (do anh Phan Triệu T2, sinh năm 1975 là chủ hộ đăng ký kinh doanh) có một số đối tượng tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra quán K1 thì phát hiện tại phòng hát VIP 1 có 06 đối tượng (gồm 03 nam giới và 03 nữ giới) đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện 01 nam giới mặc áo sơ mi màu xanh, quần dài màu xanh, đi giầy đen đang bê trên tay 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có 01 thẻ nhựa màu đen, 01 ống hút và chất bột màu trắng (nghi là ma túy) để trên đĩa sứ. Các đối tượng khai nhận đang sử dụng trái phép chất ma túy, chất bột màu trắng trên đĩa sứ là ma túy loại Ketamine chưa sử dụng hết, đĩa sứ, ống hút được quấn bằng tờ tiền nước ngoài, thẻ nhựa màu đen là dụng cụ để sử dụng ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc đối với:

  • + Đặng Văn H, sinh năm 1994;
  • + Trần Văn B, sinh năm 1995, cùng trú tại xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  • + Phạm Tuấn T1, sinh năm 1994, trú tại xóm N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Y T4, sinh năm 2008; Y H1, sinh năm 2003, cùng trú tại thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.
  • + Y M, sinh năm 2005, trú tại thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

Thu giữ vật chứng gồm:

  • + 01 đĩa sứ màu trắng (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B).
  • + Chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Ketamine phát hiện thu giữ trên mặt đĩa sứ (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A).
  • + 01 tờ tiền nước ngoài đã được quấn thành hình ống hút, có bám dính chất bột màu trắng (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu C).
  • + 01 thẻ nhựa màu đen trên có ghi chữ HUBLOT (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu D).
  • + 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) phát hiện thu giữ tại ghế da kê tại góc tường trong phòng hát (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu E).

Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A, E, H và T1 khai nhận là chất ma túy loại Ketamine.

+ 03 điện thoại di động gồm (01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 của Bộ; 01 điện thoại Iphone 7 của H; 01 điện thoại Iphone 13 của T1).

Nhận thấy vụ việc có giấu hiệu của tội phạm, Tổ công tác đã đưa các đối tượng, vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ các tài liệu xác minh, ngày 19/5/2024, Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với H và T1, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan.

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 19/05/2024 Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K2, Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ, cụ thể:

Tình trạng đồ vật, tài liệu sau khi mở niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng lấy mẫu giám định:

  • - Mở bì niêm phong ký hiệu A thấy bên trong có 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp loại Ketamine. Cho toàn t bộ số tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A lên cân điện tử xác định có khối lượng 0,546 gam (đã trừ bì) được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A1 làm mẫu giám định; vỏ bì niêm phong A, gói giấy màu trắng và vỏ túi nilon màu trắng cho vào phong bì lý hiệu A2 để lưu kho vật chứng;
  • - Mở bì niêmphong ký hiệu E thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Cho toàn bộ chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu E lên cân điện tử xác định khối lượng chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu E có khối lượng 0,114 gam (đã trừ bì), được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu El gửi giám định. Vỏ bì niêm phong E và vỏ tíu nilon được niêm phong ký hiệu E2 lưu kho vật chứng phục vụ công tá điều tra.

Cùng ngày 26/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 806/QĐ - HSKTMT đối với mẫu niêm phong ký hiệu A1 và El thu tại hiện trường, yêu cầu giám định để xác định: Mẫu giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy? Khối lượng thu giữ ban đầu là bao nhiêu?

Tại Bản Kết luận giám định số 638 ngày 27/05/2024 của Phòng K2, Công an tỉnh T kết luận:

  • - Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại ketamine, có khối lượng là 0,546 gam.
  • - Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu El gửi giám định là chất ma túy, loại ketamine, có khối lượng là 0,114 gam.

Tổng khối lượng Ketamine thu giữ là 0,66 gam.

H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định./.

CQĐT Công an huyện Đ tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của các đối tượng xác định: H, T1, và các đối tượng phục vụ quán hát là Y T4, Y H1, Y M tại các Quyết định trưng cầu giám định từ số 855 đến 860/QĐ -HSKTMT cùng ngày 31/5/2024 với nội dung: mẫu gửi giám định có chứa chất ma túy, tiền chất ma túy không?, loại chất ma túy, tiền chất gì?

Tại các Bản kết luận giám định độc chất từ số 57, 58, 59, 60, 61, 62/KLGĐĐC - TTPY ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận:

Trong mẫu nước tiểu gửi giám định có tìm thấy MDMA và Ketamin.

Tại cơ quan điều tra Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 và các đối tượng có liên quan cùng khai nhận như sau:

Ngày 18/5/2024, H đi đám cưới tại xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi uống rượu, H nảy sinh ý định mua chất ma tuý về sử dụng. H dùng điện thoại di động của mình gọi điện đến số điện thoại của người đàn ông có số thuê bao 0964757480 (H không biết người này tên là gì, địa chỉ ở đâu, số điện thoại do người bạn không nhớ tên, địa chỉ cho H) và hỏi mua của người này 02 viên ma tuý tổng hợp dạng “kẹo” thì người đàn ông này đồng ý và hẹn H ra bãi đất trống thuộc xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giao dịch. Khi H ra đến bãi đất trống thì thấy có một người đàn ông đứng đợi sẵn, H đi lại gần thì người đàn ông đưa cho H 01 (Một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu xanh (là ma tuý tổng hợp dạng “kẹo”) H nhận gói ma túy và đưalại cho người đàn ông 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) rồi quay về đám cưới.

Tại đám cưới, H gặp Phạm Tuấn T1 và Trần Văn B đều là bạn của H cũng đi ăn cưới ở đó. Sau khi ăn cưới xong T1 có nói “Bây giờ đi hát tí cho vui” thì H và B đồng ý. Khi đang trên đường đi H có nói với T1 và Bộ là “Đây tôi có hai viên kẹo, đi nghe nhạc tý cho vui" (ý là có ma túy tổng hợp để khi hát sẽ sử dụng). Cả 3 người cùng nhau đến quán K1 thuộc xóm H, xã A, huyện Đ. Khi đến cửa quán hát, H có bỏ 02 viên ma túy kẹo ra và bảo với T1 và B “ Tí vào nghe nhạc cho vui”, ý là rủ T5 và B sử dụng ma tuý “Kẹo”. Sau khi đặt phòng hát, cả 3 người được chủ quán hát hướng dẫn lên phòng 4, tầng 2 của quán. Khi lên đến tầng 2, Bộ gặp bạn và đã đi vào phòng khác giao lưu nên H và T1 đi vào phòng hát trước. Sau khi vào trong phòng hát, H lấy 02 viên ma tuý “kẹo” ra đưa cho T1 và bảo “kẹo đây”. T1 nhận lấy rồi dùng đầu của chai bia H6 nghiền nát hai viên “Kẹo” ra và cho vào cốc có sẵn ở bàn rồi đổ nước P vào pha để uống. T1 uống trước rồi đưa cốc cho H vào bảo “ Đây bạn uống đi” H cầm lấy cốc T1 đưa rồi uống. Sau đó H để cốc xuống bàn, trong cốc vẫn còn nước P có chứa ma tuý dạng kẹo. Khi H và T1 hát được một lúc thì B vào phòng, H và T1 cùng mời B sử dụng ma tuý dạng “Kẹo” là “Kẹo kia uống đi" biết là H, T1 mời sử dụng chất ma túy nên Bộ ra cầm cốc nước Pepsi có pha ma tuý dạng kẹo ở trên bàn và uống hết. Khoảng 20 phút sau có 03 nhân viên vào rót bia là YHEN, YMAI, Y THẦU (Do T1 gọi đến trước khi vào phòng hát). Cả nhóm hát đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 19/05/2024 thì nghỉ. T1 xuống thanh toán tiền hát ở phòng 4 tầng 2 xong thì T1 lại rủ H và B tiếp tục thuê phòng để hát tiếp thì H và B đồng ý. T1 đi đặt phòng thì được chủ quán hướng dẫn vào Phòng V, tầng 1 và lại gọi 03 nhân viên là YHEN, YMAI, Y THẦU vào rót bia. Trong phòng hát Vip 01 T1 rủ H “hay là bây giờ đi mua ít ke về chơi cho vui” (ý là mua chất ma túy loại Ketamine về để sử dụng) thì H đồng ý và trả lời là “ok” lúc này trong phòng hát có H, T1 và 03 nhân viên rót bia nhưng không nghe thấy cuộc trò chuyện của H và T1, còn Bộ thì đang ở ngoài. Khi B vào phòng thì T1 gọi H ra ngoài, H và T1 ra ngoài bàn uống nước của quán hát thì H bảo với T1 “ Tôi không có tiền đâu” thì T1 bảo “Tôi đưa cho bạn 1.000.000 đồng bạn gọi ke đi về tôi với bạn cùng chơi”, rồi T1 lấy từ trong ví ra 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho H. Lúc này B đi ra và nhìn thấy T5 đưa tiền cho H nhưng không biết đưa để làm gì. Sau đó T1 và B đi vào phòng hát, còn H ngồi ở bàn uống nước và gọi cho số điện thoại 0964.757.xxx mà H vừa mua ma túy dạng “Kẹo" lúc trước để hỏi mua 1.000.000 đồng chất ma túy loại Ketamine, người đàn ông này đồng ý và bảo đợi một lát sẽ mang đến cửa quán cho. Khoảng 20 phút thì người đàn ông gọi lại và bảo H “ra cổng đi anh đưa cho” H hiểu là người đàn ông gọi ra lấy chất ma tuý loại Ketamine. H đi ra cổng thì thấy người đàn ông đang đứng ở cổng quán hát đợi, H tiến lại gần thì người đàn ông đưa cho 01(Một) túi nilon bên trong chứa ma tuý loại ketamine. H nhận lấy túi ma tuý rồi đưa lại cho người đàn ông 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, H đi vào bếp của quán hát lấy 01 chiếc đĩa sứ rồi đi lên phòng hát rồi vào nhà vệ sinh trong phòng hát thì nhặt được 01 chiếc thẻ cứng màu đen. H sử dụng đĩa sứ và chiếc thẻ cứng để "xào" một phần số ma tuý loại ketamine trong nhà vệ sinh. Phần còn lại, H vẫn để trong túi ni lông và để ở trên mặt ghế của quán hát khi đi từ nhà vệ sinh ra. “Xào ke” xong, H mang đĩa có chứa ketamine ra để trên bàn rồi hỏi 03 nhân viên rót bia có tờ tiền 10.000 đồng nào không cho H mượn thì cả 03 nhân viên đều không có. H lại nói với T1 “Lấy được ke rồi, bỏ tiền ra để chơi” (ý là bảo T1 bỏ tiền ra quấn thành ống hút để sử dụng ma túy) thì T1 lấy từ trong ví ra 01 tờ tiền nước ngoài rồi cuốn thành ống hút. Sau đó T1 để tờ tiền đã quấn thành ống hút lên đĩa, H dùng thẻ nhựa màu đen “kẻ” ma túy ra thành 01 đường và dùng ống hút T1 đã quấn sử dụng ma túy bằng hình thức hít. Sau khi H sử dụng xong thì đặt đĩa sứ xuống bàn thì T1 cầm lên và sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi T1 sử dụng xong thì T1 đưa cho B, B cầm chiếc đĩa có chứa ma tuý và bảo “Tao không chơi đâu” khi Bộ đang định đặt đĩa sứ xuống bàn thì bị tổ Công tác của Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện lập biên bản sự việc.

- Lời khai của Trần Văn B: Bộ là bạn của Phạm Tuấn T1, ngày 18/5/2024 cùng đi ăn cưới với T1. Sau khi ăn cưới xong, B được T1 rủ cùng vào quán hát Karaoke Ánh D trong đó có H. H và T1 mời Bộ uống nước P đã pha sẵn bảo “Đồ pha sẵn đây uống đi”, Bộ hiểu là H và T1 đã pha sẵn ma túy dạng “Kẹo” vào cốc nước pepsi và mời Bộ uống. Khi sử dụng xong thì nằm tại ghế ngủ đến khi tỉnh daayh thấy H và T1 sử dụng ma túy bằng ống hú cuộn bằng tờ tiền rồi hít trên đĩa sứ, H và T1 có mời nhưng Bộ từ chối không sử dụng, khi Bộ đang cầm đĩa sứ để xuống bàn thì bị CQ công an phát hiện bắt giữ và tạm giữ đồ vật tài liệu có liên quan như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu B (bên trong là 01 đĩa sứ màu trắng);
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu C (bên trong là 01 tờ tiền nước ngoài được quấn thành hình ống hút);
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu D (bên trong là 01 thẻ nhựa màu đen);
  • + 02 phong bì niêm phong ký hiệu A2, E2 (bên trong là vỏ mẫu giấy gói);
  • + 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, E1 (bên trong là ma túy còn lại sau giám định);
  • + 03 điện thoại di động đã qua sử dụng.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 119/CT-VKSĐT, ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố: Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, kiểm sát viên kiểm sát xét xử luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên Quyết định truy tố đối với hai bị cáo về tội danh tại bản Cáo trạng đã thể hiện.

Nhân thân: Bị cáo T1 chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo H có nhân thân xấu, tại Bản án số 03 ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đặng Văn H 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. H chấp hành xong Bản án ngày 27/12/2019. Chấp hành các nghĩa vụ dân sự khác nên Bản án đã được xóa án tích. Đề nghị HĐXX cân nhắc mức án khi lượng hình.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T6 hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra bị cáo H có ông N1 là Đặng Văn C1, bà nội là Trương Thị M1 đều tham gia kháng chiến được tặng thưởng H3, huy chương chống Mỹ cứu nước, gia đình bị cáo có thành tích trong phong trào hiến đất làm đường giao thông xây dựng công trình phúc lợi của huyện Đ; bị cáo Phạm Tuấn T1 còn có đơn xác nhận của nơi cư trú thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nên cả hai bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T7 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo H khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện nên giữ vai trò chính chịu hình phạt cao hơn T1. Tú là đồng phạm giúp sức, cung cấp tiền cho H mua ma túy nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T8 tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt chính. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm a, b Khoản 2, Điều 255; điểm s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Đặng Văn H4 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn T9 án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động thu của H;
  • - Trả 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5 cho anh Trần Văn B và 01 điện thoại di động bị cáo T1.
  • - Tiếp tục lưu hồ sơ 01 tờ tiền nước ngoài;

3. Về án phí: Đề nghị Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/QH14 các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo và người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Phần tranh tụng và đối đáp:

Ý kiến của của các bị cáo: nhất trí với luận tội của VKS xin HĐXX cho mức án nhẹ nhất.

Người liên quan ông T2 không tranh luận.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Đại Từ không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của hai bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2]. Người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Q, anh B) có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người tham gia tố tụng nêu trên vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định, giành quyền kháng cáo cho người có quyền lợi liên quan vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2]. Đánh giá về tội danh bị truy tố và tịnh tiết định khung hình phạt đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa cả hai bị cáo đều thừa nhận là người nghiện ma túy, nên việc mua ma túy sử dụng tại quán hát là trái quy định của pháp luật. Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo, xét thấy phù hợp với biên bản bắt sự việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/5/2024 tại phòng hát VIP 4, tầng 2 của quán K1 tại xóm H, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (do anh Phan Triệu T2 làm chủ), Đặng Văn H đã đưa 02 viên ma túy tổng hợp dạng “Kẹo” cho Phạm Tuấn T1, T1 dùng chai bia có sẵn trong phòng hát nghiền nát 02 viên ma túy cho vào cốc rồi đổ nước Pepsi vào hòa tan rồi T1 sử dụng bằng hình thức uống. Sau đó, T1 đưa cốc nước cho H, H cũng sử dụng bằng hình thức uống rồi để cốc nước có chứa chất ma túy xuống bàn. Khi Trần Văn B đi vào phòng hát thì H và T1 nói với B là trong cốc nước có chứa chất ma túy và mời Bộ sử dụng, biết là H, T1 mời sử dụng chất ma túy nên B đã sử dụng bằng hình thức uống. Sau khi sử dụng ma túy xong, H, T1 và Bộ cùng với 3 nhân viên là YHEN, YMAI, Y THẦU hát đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 19/5/2024 thì ra về.

Khi xuống tầng 1 của quán hát, T1, H, B tiếp tục thuê phòng VIP 1, tầng 1 để hát. Tại phòng hát, T1 nói với H đi mua chất ma túy loại Ketamine về để sử dụng thì H đồng ý. T1 đưa cho H 1.000.000đ, H dùng điện thoại gọi đến số thuê bao của người đàn ông đã bán chất ma túy tổng hợp dạng Kẹo H5 đã mua trước đó hỏi mua Ketamine thì người này đồng ý và bảo đợi. Sau đó có một người đàn ông đến quán và gọi H5 ra lấy. Sau khi nhận được Ketamine, H5 đi vào khu vực bếp của quán lấy 01 đĩa sứ rồi đi vào phòng vệ sinh có trong phòng hát thì nhặt được 01 thẻ nhựa màu đen, H5 đổ K ra đĩa và dùng thẻ nhựa để xào ke. Sau đó H5 đi ra phòng hát để số Ketamine còn lại trên ghế và để đĩa có chứa Ketamine trên mặt bàn thì T1 lấy 01 tờ tiền nước ngoài quấn thành hình ống hút để lên đĩa. H5 sử dụng Ketamine trước bằng hình thức hít rồi đưa đĩa chứa Ketamine cho T1, T1 sử dụng xong đưa cho B sử dụng nhưng Bộ không sử dụng. Khi B cầm đĩa ma túy để xuống bàn thì bị Tổ công tác, Công an huyện Đ phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng như nêu trên. Kết luận giám định độc chất xác định H5, T1, Bộ D1 với chất ma túy loại MDMA và Ketamine.

[3]. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, tại Bản cáo trạng số: 119/CT-VKSĐT ngày 22/10/2024 với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, cụ thể điều luật truy tố có nội dung

Nội dung điều Điều 255 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên.

b) Đối với 02 người trở lên.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:

[4.1. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cả hai đều nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nhưng vì muốn sử dụng ma túy nên đã cố ý phạm tội. Trong bối cảnh hiện nay, các tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, bởi ma túy là hiểm họa chung của nhân loại, tác hại của ma túy rất khó lường, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống bình yên vốn có của nhiều gia đình. Căn cứ vào hành vi, số lần tổ chức sử dụng ma túy, Viện Kiểm sát nhân dânhuyện Đại Từ truy tố bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4.2]. Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không phân công vai trò cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê Phạm Tuấn T1 cùng sử dụng ma túy, công cụ là đĩa sứ do H tự ý lấy tại bếp của chủ quán K1. Việc xào và ke ma túy, nguồn mua ma túy cũng do bị cáo H nên bị cáo H giữ vai trò chính, trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T1. Còn bị cáo tú giúp sức tích cực cùng H trong việc dùng chai bia nghiền nát hai viên “kẹo” cho vào cốc nước có pepsi, ngoài ra T1 còn dùng tờ tiền nước ngoài lấy trong ví của mình quấn thành ống hút tạo dụng cụ để sử dụng ma túy nên T1 giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

[4.3]. Xét nhân thân: Bị cáo Đặng Văn H mặc dù được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân cần đề cập để Hội đồng xét xử cân nhắc trong khi lượng hình, đó là tại Bản án số 03/2019/HSPPT ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Đặng Văn H 12 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. H chấp hành xong Bản án ngày 27/12/2019. Bị cáo Phạm Tuấn T1 chưa có tiền án, tiền sự phạm tội cũng chỉ do a dua theo bị cáo H. Do đó, khi lượng hình, để đảm bảo sự công bằng khi quyết định hình phạt. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc nhân thân, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để quyết định cho phù hợp.

[4.4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cả hai bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị cáo H có ông N1 là Đặng Văn C1, bà nội là Trương Thị M1 đều tham gia kháng chiến được tặng thưởng H3, huy chương chống Mỹ cứu nước, gia đình bị cáo có thành tích trong phong trào hiến đất làm đường giao thông xây dựng công trình phúc lợi của huyện Đ; Bị cáo Phạm Tuấn T1 còn có đơn xác nhận của nơi cư trú thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nên cả hai bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4.5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tôi của hai bị cáo bị truy tố tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là tình tiết định khung tăng nặng của Điều luật nên đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo đủ để làm gương và răn đe phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận

[8]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Triệu T2 xác định chiếc đĩa sứ bị tịch thu do H tự giác lấy tài sản của gia đình mà không hỏi ý kiến, gia đình không biết, đề nghị tịch thu tiêu hủy đĩa sứ theo quy định.

[9]. Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động thu của H do H khai liên lạc mua ma túy để sử dụng trái phép;
  • - Trả 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5 cho anh Trần Văn B và bị cáo T1 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax do không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Tiếp tục lưu hồ sơ 01 tờ tiền nước ngoài;

[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Về các vấn đề khác của vụ án:

[10.1]. Đối với hành vi Tàng trữ 0,660 gam ma túy loại Ketamine của H và T1. Do khối lượng ma túy chưa đủ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. H và T1 chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi của H và T1 không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện Đ đã xử phạt hành chính theo quy định.

[10.2]. Đối với hành vi của Trần Văn B. Quá trình điều tra xác định B không có vai trò đồng phạm gì đối với H và T1. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

[10.3]. Đối với hành vi của YHEN, YMAI, Y THẦU. Các đối tượng dương tính với chất ma túy loại MDMA và Ketamine. Quá trình điều tra xác định tại quán K1 các đối tượng không sử dụng chất ma túy. Các đối tượng khai do công việc đi tiếp khách rót bia ở nhiều quán Karaone nên có thể đã uống nhầm cốc nước có chứa chất ma túy nên Công an huyện Đ không xem xét xử lý.

[10.4]. Liên quan trong vụ án, anh Phan Triệu T2 và chị Ngô Thị Q là chủ quán K1 đã để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại quán. Quá trình điều tra xác định anh T2 không đồng phạm đối với các bị cáo. Công an huyện Đ đã chuyển hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[10.5]. Đối với người đàn ông bản chất ma túy cho H có sử dụng số điện thoại 0964.757.xxx. Quá trình điều tra xác định là số điện thoại của anh Nguyễn Minh T10, sinh năm 1991, trú tại xóm T, xã A, huyện Đ. Tại Cơ quan điều tra, anh T10 khai bản thân không sử dụng số điện thoại 0964.757.xxx, không bán chất ma túy cho ai, bản thân H cũng không nhận dạng được người bán chất ma túy nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên các bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính:

Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Bị cáo Đặng Văn H 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/5/2024.

Bị cáo Phạm Tuấn T1 07 (Bẩy) năm tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/5/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Đặng Văn H và Phạm Tuấn T1 mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

4.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - Số ma túy còn lại được niêm phong trong 04 phong bì ký hiệu lần lượt A1, A2, E1, E2 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong);
  • - 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 20 cm trong phong bì ký hiệu B;
  • - 01 thẻ nhựa màu đen có ghi chữ HUBLOT trong phong bì ký hiệu D.

(Theo biên bản đóng gói, niêm phong giao nhận lại đối tượng giám định ngày 27/5/2024, giữa Phòng K2 Công an tỉnh T với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ghi: Hoàn lại 0,420 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong ký hiệu A1); H2 lại 0,024 gam mẫu E1 còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu ký hiệu E1).

4.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355321088524187, SIM: 0359296322 của bị cáo H;

4.3. Trả lại:

  • - Anh Trần Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, đã qua sử dụng số IMEI: 352006068599761, SIM: 0964905841.
  • - Bị cáo Phạm Tuấn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 Pro Max, màu xám đã qua sử dụng, số IMEI: 359811261183070, SIM: 0399697331;

(Tình trạng vật chứng được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 01/11/2024).

  • - Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án: 01 tờ tiền nước ngoài đã được cuốn lại thành ống hút, có bám dính chất bột màu trắng được phát hiện thu giữ trên mặt đĩa sứ, được niêm phong vào phong bì ký hiệu C.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Văn H, Phạm Tuấn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo tại phiên toà. Báo cho biết, các bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh B, chị Q) tại phiên toà. Báo cho biết, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ, lưu giam CA huyện Đại Từ;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HSST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 127/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo đống phạm tổ chức cho người khấc sử dụng ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger