Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày: 15-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn .

Bà Nguyễn Thị Công Mừng.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Viên Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1997 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Sán dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Viên Văn B, sinh năm 1978; Con bà Tạ Thị T, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

* Bị hại:

Chị Giáp Thị H, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Nguyễn Việt D1, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  4. Ông Viên Văn B, sinh năm 1978 (Có mặt)

    Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Viên Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đối tượng nghiện ma tuý, thường xuyên không có mặt tại gia đình và địa phương. Tối ngày 10/8/2024, C đi bộ đến Trung tâm y tế huyện L thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, do trời mưa nên C ngủ tầng 2 Trung tâm y tế. Khoảng 07 giờ cùng ngày, C ngủ dậy và đi xuống tầng 1, đứng ở hành lang thì thấy có chiếc xe máy điện, nhãn hiệu BEFORE, loại Xmen, BKS 98MĐ-098.86 dựng dưới gầm cầu thang, chìa khoá xe vẫn cắm ở khoá của cốp xe, trên yên xe có để 01 chiếc mũ bảo hiểm. Đó là xe mô tô và mũ bảo hiểm của chị Giáp Thị H, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là cán bộ của Trung tâm y tế) để ở đó. Lúc này C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. C tiến lại gần chiếc xe, sau đó dùng tay phải của mình rút chìa khóa điện từ ổ khóa cốp, cắm vào ổ khóa điện vặn mở được khóa xe. Do trời đang mưa nên C lấy chiếc áo mưa màu đen, có ống tay màu xanh, quần mưa màu đen của chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1997, trú tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang để ở trên xe mô tô đang dựng cạnh chiếc xe máy điện của chị H mặc vào người rồi lấy chiếc mũ bảo hiểm có chữ Sunda, màu trắng để trên xe máy điện của chị H đội lên đầu. Sau đó C dắt chiếc xe máy điện của chị H từ gầm cầu thang ra ngoài và điều khiển xe đi ra khỏi Trung tâm y tế huyện L. Sau khi lấy trộm được xe, C đi lòng vòng ở thị trấn C, khi đi đến đoạn đường gần tổ dân phố L thì C tháo biển số xe máy điện rồi mang đến khu vực đường liên thôn X, xã T, huyện L (đoạn gần chợ C1, thị trấn C) vứt tại bụi cỏ ven đường. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe máy điện đến cửa hàng sửa chữa xe máy của ông Khúc Xuân B1, sinh năm 1971, ở thôn K, xã H, huyện L. Khi đến đây C gặp anh Nguyễn Việt D1, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L là nhân viên sửa xe cho ông B1 đang làm việc tại đây. C nói với anh D1 mình có chiếc xe máy điện, không có nhu cầu sử dụng muốn bán, anh D1 đồng ý mua với giá 3.200.000đ. Do không đủ tiền mặt nên anh D1 chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của anh D1, số tài khoản 0972606101 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 đến số tài khoản 0009827415207 của Viên Văn C mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền 3.000.000đ, còn 200.000₫ anh D1 đưa tiền mặt cho C. Sau khi bán được xe C đi về, trên đường về do trời hết mưa nên C đã cởi vứt áo mưa và mũ bảo hiểm đi. Số tiền có được do bán tài sản trộm cắp C đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 20/8/2024 anh Đỗ Văn D, sinh năm 1985 là chồng của chị Giáp Thị H đã làm đơn trình báo đến Công an huyện L. Ngày 21/8/2024, nhận thấy hành vi của mình là sai nên Viên Văn C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 21/8/2024, anh Nguyễn Việt D1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra máy điện nhãn hiệu BEFORE, loại Xmen, BKS 98MĐ-098.86.

Ngày 21/8/2024 và 13/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với các tài sản bị trộm cắp. Tại Kết luận định giá tài sản số 93 ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe máy điện nhãn hiệu BEFORE, loại Xmen, BKS 98MĐ-098.86 trị giá 5.500.000đ. Tại Kết luận định giá tài sản số 100 ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 chiếc mũ bảo hiệm Sunda màu trắng trị giá 5.000đ; 01 bộ quần áo mưa màu đen, xanh trị giá 30.000đ.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Viên Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa ông Viên Văn B trình bày phù hợp với lời trình bày tại Cơ quan điều tra, ông xác định bị cáo đã tác động để ông khắc phục thiệt hại số tiền mà bị cáo bán xe do trộm cắp mà có, sau đó bị cáo đã chi tiêu hết. Việc ông đứng ra bồi thường thay cho bị cáo là tự nguyện, ông không có yêu cầu gì về việc bồi thường này, ông mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 130/KSĐT ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Viên Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Viên Văn C từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/8/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Viên Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng 07 giờ ngày 11/8/2024, tại Trung tâm y tế huyện L thuộc thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, Viên Văn C có hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu BEFORE, loại Xmen, BKS 98MĐ-098.86 trị giá 5.500.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm Sanda trị giá 5.000 đồng của chị Giáp thị H; trộm cắp 01 bộ quần áo mưa màu xanh, đen, trị giá 30.000 đồng của chị Nguyễn Thị Quỳnh . Sau khi trộm cắp được số tài sản trên C đã mang chiếc xe máy điện đi bán được số tiền 3.200.000 đồng và sử dụng tiêu sài cá nhân hết, còn chiếc biển kiểm soát xe trước khi bán C đã tháo vứt đi cùng chiếc mũ bảo hiểm, bộ quần áo mưa. Tổng giá trị tài sản C trộm cắp được là 5.535.000₫.”.

[3] Hành vi nêu trên của Viên Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương; Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thường xuyên lang thang, không có mặt tại gia đình, lại nghiện ma túy, điều đó chứng tỏ là người khó giáo dục, coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là không có công việc ổn định, nghiện ma túy, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[8] Đối với chiếc biển số xe BKS 98MĐ-098.86 Cường khai vứt ở bụi cỏ ven đường liên thôn X, xã T, huyện L, ngày 21/8/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Đối với 01 mũ bảo hiểm và 01 bộ quần áo mưa C khai không nhớ vất ở đâu nên không có căn cứ để truy tìm. Ngày 20/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật là 01 chiếc BKS 98MĐ-098.86, 01 mũ bảo hiểm, 01 bộ quần áo mưa nhưng đến nay không truy tìm được. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[10] Đối với anh Nguyễn Việt D1, khi mua chiếc xe máy điện của C mang đến bán, anh D1 không biết là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh D1. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Anh Dũng, chị H không yêu cầu bị cáo bồi thường chiếc mũ bảo hiểm và biển kiểm soát xe; chị Q không yêu cầu bị cáo C bồi thường bộ quần áo mưa. Ngày 23/8/2024, ông Viên Văn B, sinh năm 1978 trú tại thôn H, xã T, huyện L (là bố đẻ của bị cáo C) đã trả cho anh Nguyễn Việt D1 số tiền 3.200.000đ thay cho bị cáo, anh D1 đã nhận đủ và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Viên Văn C 07 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/8/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Viên Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cứ trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 07 giờ ngày 11/8/2024, tại Trung tâm y tế huyện L thuộc thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, Viên Văn C có hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu BEFORE, loại Xmen, BKS 98MĐ-098.86 trị giá 5.500.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm Sanda trị giá 5.000 đồng của chị Giáp thị H; trộm cắp 01 bộ quần áo mưa màu xanh, đen, trị giá 30.000 đồng của chị Nguyễn Thị Quỳnh . Sau khi trộm cắp được số tài sản trên C đã mang chiếc xe máy điện đi bán được số tiền 3.200.000 đồng và sử dụng tiêu sài cá nhân hết, còn chiếc biển kiểm soát xe trước khi bán C đã tháo vứt đi cùng chiếc mũ bảo hiểm, bộ quần áo mưa. Tổng giá trị tài sản C trộm cắp được là 5.535.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger