|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Thế Vinh.
- Bà Trần Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai ngày 09/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Đỗ Văn P quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của hai bên gia đình, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì quyết định kết hôn. Ngày 22/9/1986 cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là xã P), huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 01 năm tại nhà của ông P ở Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, bà T rời khỏi nhà ông P. Từ đó đến nay, vợ chồng không chung sống với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin được ly hôn với ông P.
- Về con chung: Bà Hồ Thị T khai vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/9/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Văn P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Đỗ Văn P và bà Hồ Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22/9/1986 tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Đến nay đã hơn 30 năm vợ chồng không chung sống với nhau. Nay bà T xin ly hôn thì ông P đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung: ông Đỗ Văn P xác nhận vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đỗ Văn P xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của Bà Hồ Thị T, cho bà T được ly hôn với ông P. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, bà T, ông P đều xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Đỗ Văn P có hộ khẩu thường trú tại: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận thấy trong Trích lục kết hôn ghi nhận bà Hồ Thị T sinh năm 1966, ông Đỗ Ngọc P1, sinh ngày 15/6/1957, thông tin sai lệch so với Căn cước công dân của bà Hồ Thị T, sinh ngày 03/02/1967, ông Đỗ Văn P, sinh ngày 01/5/1958. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã P, đồng thời bà Hồ Thị T, ông Đỗ Văn P khẳng định bà Hồ Thị T sinh năm 1966 trong Trích lục kết hôn và bà Hồ Thị T, sinh ngày 03/02/1967 trong căn cước công dân là 01 người. Ông Đỗ Ngọc P1, sinh ngày 15/6/1957 và ông Đỗ Văn P, sinh ngày 01/5/1958 là 01 người.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Đỗ Văn P chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của Bà Hồ Thị T, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà T, ông P, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ chồng đã sống xa nhau từ lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, ông P cũng đồng ý ly hôn nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho Bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Đỗ Văn P là đúng quy định pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về con chung: Bà Hồ Thị T, ông Đỗ Văn P xác nhận không có con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T và ông Đỗ Văn P xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Hồ Thị T, cho Bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Đỗ Văn P. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Đỗ Văn P không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T và ông Đỗ Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0001992 ngày 22/7/2024.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Toàn - Đỗ Văn Phước
