Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 127/2024/HSST

Ngày 23/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Cường và ông Tăng Văn Quang

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Toản- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/01/1979 tại Hòa Bình; Trú tại: Xóm T, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: không xác định, con bà Nguyễn Thị T (đã chết); Có vợ là Ngô Thị H1, sinh năm 1983; Có 02 con: con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/10/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 19/HSST - Đã được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Thanh H bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1950. ĐKHKTT: Tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (đã chết ).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại đồng thời là nguyên đơn dân sự:

  • + Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1981; Trú tại: V - P - H - Hà Nội (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Công ty TNHH S (Vắng mặt có ủy quyền)
  • Địa chỉ: Thị trấn Q, huyện Q, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1967; trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (Có mặt).
  • + Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1983; Trú tại: Xóm T, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (có mặt);

- Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1967; trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình Bình (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 30/05/2024, Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình là lái xe của Công ty TNHH N1 có địa chỉ tại phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, điều khiển xe ôtô BKS: 29H-301.57 từ Công ty TNHH N1 thuộc phường T, TP . đi đến bãi cát T thuộc tổ A, phường T, TP . để chở cát. H điều khiển theo đường Quốc lộ 70B ra đường T rẽ trái vào đường H, khi di chuyển cách đầu cầu H khoảng 20 mét, Hải quan sát thấy bà Nguyễn Thị Q (Sinh năm 1950, trú tại: Tổ B, phường T, TP H) điều khiển xe đạp đi phía trước cùng chiều. Khi đi đến khu vực đầu cầu H3 thuộc địa phận Tổ A, phường T, TP H, H điều khiển xe ôtô BKS 29H-301.57 chuyển hướng rẽ phải vào đường đê Ngòi Dong, do không chú ý quan sát và chủ quan nghĩ rằng bà Q đã điều khiển xe đạp đi qua ngã tư nên H đã chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, dẫn đến bánh trước bên phải xe ô tô BKS 29H-301.57 điều khiển va chạm vào xe đạp dẫn đến bà Q bị ngã xuống đường và bị bánh xe phía sau bên phải xe ôtô BKS 29H-301.57 chèn qua người làm bà Q tử vong tại hiện trường.

Sau khi xuống xe và xác định bà Q tử vong, Nguyễn Thanh H đã đến Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình đầu thú.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các tài liệu điều tra xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc địa phận tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình là đoạn đường giao nhau giữa cầu H và đường Đ, được rải nhựa tương đối bằng phẳng. Chiều rộng mặt đường C là 6,90m, mặt đường Đ là 14,88m, xe ô tô do Nguyễn Thanh H điều khiển di chuyển theo hướng T -> Đ, rẽ phải vào đê N, xe đạp do bà Q điều khiển di chuyển theo hướng T -> Đ.

Tại hiện trường để lại các dấu vết và được đánh dấu số thứ tự từ 1->2, cụ thể: (1) là vùng máu bám dính tổ chức cơ thể người diện (1,62x0,80)m; (2) là vết bánh xe đứt quãng diện (10,83x0,13)m.

Lấy mép đường bên phải hướng T-> cầu Hòa Bình 2 làm mép đường chuẩn.

Lấy cột đèn chiếu sáng số 01 hướng cầu Hòa Bình 2 -> U làm mốc hiện trường.

Xe ô tô BKS: 29H-301.57 do anh Nguyễn Thanh H điều khiển sau tai sạn xe dừng tại giữa đường Đ. Đầu xe hướng UBND thành phố U, đuôi xe hướng cầu H. Đo trục trước phải ra mép là 18,80m, đến trục trước xe đạp là 19,93m. Đo trục sau ra mép là 12,45m. Xe đạp màu sơn xanh đen, loại mini-nữ do bà Nguyễn Thị Q điều khiển sau tai nạn xe đổ nghiêng trái bên lề đường hướng T -> cầu Hòa Bình 2. Đo trục trước ra mép là 2,55m, đến tâm (1) là 1,33m. Đo trục sau ra mép là 1,85m.

Đo tâm (1) ra mép là 2,72m; đến đầu (2) là 3,82m ; đến mốc là 11,63m.

Đo đầu (2) ra mép là 4,82m. Đo cuối (2) ra mép là 13,32m.

Căn cứ các dấu vết để lại trên hiện trường và lời khai của Nguyễn Thanh H xác định điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện (ký hiệu A), cụ thể: Đo (A) đến mép là 1,12m, đến tâm vùng máu bám dính tổ chức cơ thể người ký hiệu (1) là 2,23m, đến đầu vết bánh xe đứt quãng ký hiệu (2) là 6,0m, đến mốc 13,65m, đến trục trước xe đạp là 1,45m, đến trục sau phải ôtô là 15,67m.

Kết quả khám phương tiện xe ôtô BKS 29H-301.57:

Mặt ngoài má lốp phía trước đầu trên bên phải để lại vết tì trượt làm sạch bụi đất có hướng từ ngoài mặt lăn vào tâm trục bánh xe diện (18x3)cm. Đo điểm gần nhất cách chữ “J” trong dòng chữ “JINYU” là 7cm.

Tại mặt ngoài má lốp trước phải đầu xe để lại vết tỳ trượt bám dính sợi màu đen theo ngược chiều tịnh tiến của bánh xe diện (78x1)cm. Đo điểm gần nhất của vết đến chữ “R” trong dòng chữ “REGROOVABLE” là 7,5cm.

Mặt ngoài má lốp trước thứ 2 phải để lại vết tỳ trượt, cà xước có hướng từ ngoài mặt lăn vào tâm trục bánh xe diện (70x8)cm. Đo điểm gần nhất của vết cách số 3 trong dòng chữ 388 là 4,5cm. Tại mặt ngoài má lốp này để lại vết tỳ trượt làm sách bụi đất có hướng ngược chiều tịnh tiến của bánh xe diện (11x5)cm. Đo điểm gần nhất cách chữ “G” trong dòng chữ “GUOBAO” là 23cm. Tại mặt lăn má lốp này để lại vết tỳ trượt sạch bụi đất có hướng từ mặt lăn vào trục diện (5,5x12)cm. Đo điểm gần nhất của vết cách chữ “O” trong dòng chữ “GUOBAO” là 4,5cm.

Mặt ngoài má lốp phía sau thứ 2 phía sau bên phải để lại vết tỳ trượt làm sạch bụi đất hướng từ ngoài mặt lăn vào tâm trục diện (74x11)cm. Đo điểm gần nhất của vết cách số 1 trong dòng chữ “1200R20” là 6,5cm. Mặt lăn lốp xe này để

lại vết tỳ trượt làm sạch bụi đất bám dính tổ chức cơ thể người diện (25x34)cm, đo điểm gần nhất của vết cách số 2 trong dòng chữ “1200R20” là 17cm.

Kết quả khám phương tiện xe đạp:

Giỏ xe phía trước bị móp méo từ trước về sau, tại cạnh trên giỏ xe này để lại vết tỳ trượt cà xước làm bong tróc cao su hướng từ trái sang phải diện (19x0,5)cm. Tay phanh bên trái bị đẩy cong từ trái sang phải, tại đầu tay phanh này để lại vết tỳ trượt bám dính tạp chất màu đen hướng từ trên xuống dưới, trái sang phải diện (1,5x1)cm. Mặt ngoài thanh kim loại cố định giỏ xe bên trái để lại vết cà xước tỳ trượt có hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải diện (23x0,02)cm. Cạnh ngoài bàn đạp bên trái để lại vết tỳ trượt cà xước có hướng từ trái qua phải diện (2,5x2,5) cm. Toàn bộ vành bánh sau, khung sườn sau bị đẩy cong, xê lệch. Đầu mũ ốc và khớp nối trục bánh xe sau trái bị đẩy cong cà xước bám dính tạp chất màu trắng hướng từ dưới lên trên diện (4x8,5)cm. May ở phía sau bị đẩy cong từ trên xuống dưới, chân chống phụ bị đẩy cong từ trái qua phải, chân chống chính bị đứt gẫy xô lệch. Giá đèo hàng phía sau bị móp méo, đẩy cong từ trái sang phải. Yên xe bị xô lệch từ trái sang phải. Hộp xích bị móp méo đẩy cong từ phải sang trái. Vành bánh xe phía sau bị móp méo làm bung bật nan hoa. Tại vị trí cạnh ngoài bên trái vành bánh xe này để lại vết hằn làm móp vành bánh có hướng từ trái sang phải, đo điểm gần nhất của vết cách chân van là 14,5cm, tại cạnh ngoài vành bánh này để lại vết tỳ trượt và xước đứt quãng hướng từ ngoài mặt lăn vào tâm trục bánh xe diện (90x0,2)cm.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 71/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 05/6/2024 của Phòng PC09, Công an tỉnh H, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

Nạn nhân bị chấn thương vùng đầu, mặt, cổ, ngực, hố chậu, hạ vị, sinh dục, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Vỡ xương hộp sọ, hệ thống xương mặt, mặt biến dạng, gãy nhiều xương sườn, sập bẹp lồng ngực, gãy xương cánh tay, xương cẳng tay, vỡ khung xương chậu và nhiều vết xây sát, mài mòn, rách da, bầm tím trên cơ thể nạn nhân.

2. Kết luận:

Nạn nhân chết do đa chấn thương”

Tại bản kết luận giám định hình ảnh số 365/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong tệp video gửi giám định”.

Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 4288/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của V - Bộ C kết luận:

“1. Mẫu ghi tạp chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu tại vị trí số 1 trên hiện trường (ký hiệu M1) gửi giám định là máu người và là máu của Nguyễn Thị Quỳnh.

2. Mẫu ghi tạp chất (nghi là máu và tổ chức cơ thể người) thu tại lốp phía ngoài hàng lốp thứ 3 bên phải của xe ô tô BKS: 29H-301.57 (ký hiệu M2) gửi giám định là mô (tổ chức cơ thể) người và là mô (tổ chức cơ thể) của Nguyễn Thị Q”.

Tại biên bản xét nghiệm ma túy của Nguyễn Thanh H thể hiện Nguyễn Thanh H không sử dụng chất ma túy.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn của Nguyễn Thanh H thể hiện trong hơi thở của Nguyễn Thanh H không có nồng độ cồn.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 143/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Hòa Bình đối với chiếc xe đạp do bà Nguyễn Thị Q điều khiển kết luận: “Định giá các bộ phận bị hư hỏng của xe đạp loại mini – nữ, màu sơn X – Đen có tổng giá trị 1.155.000đ (Một triệu một trăm năm mươi năm nghìn đồng).

Như vậy, xác định xe ô tô BKS 29H-301.57 do Nguyễn Thanh H điều khiển, khi chuyển hướng đã không nhường đường cho xe đi phía trước, bên phải dẫn đến má ngoài lốp phía trước, bên phải của xe ô tô đã đâm va vào vành phía sau xe đạp do bà Nguyễn Thị Q điều khiển, là nguyên nhân xảy ra tai nạn. Điểm va chạm nằm tại phần đường bên phải hướng T -> Đ.

Hành vi của Nguyễn Thanh H đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông và hậu quả như trên với phần lỗi hoàn toàn của bị cáo. Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều 15: Chuyển hướng xe.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

...".

Về vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe ôtô BKS 29H-301.57 nhãn hiệu CNHTC, loại xe: Tải tự đổ, màu sơn: Xanh, số máy: 16037027817, số khung: XSA7GN124155 tình trạng đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) chiếc xe đạp, loại xe: Mini-Nữ, màu sơn: Xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng.
  • - Các vật chứng thu giữ khác bao gồm: 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn Thanh H; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, nhận tội và không kêu oan. Bị cáo cũng nhất trí với thỏa thuận về trách nhiệm dân sự đối với những người thừa kế theo pháp luật của bị hại là 150.000.000 đồng và có trách nhiệm trả chị H1 số tiền 100.000.000 đồng chi Huế đã vay mượn giúp bị cáo để bồi thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về khoản tiền này giữa bị cáo và chị H1. Do vậy HĐXX không đề cập giải quyết. Bị cáo cũng đồng ý số tiền 50.000.000 đồng là trách nhiệm dân sự bị cáo H còn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả cho những người thừa kế theo pháp luật của bị hại sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người thừa kế theo pháp luật của bị hại. Do vậy HĐXX không đề cập giải quyết.

Những người đại diện theo pháp luật của bị hại (ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh N): Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nêu quan điểm trong đơn đã thỏa thuận xong trách nhiệm dân sự với bị đơn dân sự là ông Nguyễn Đức H2 số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và đã bồi thường xong, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với trách nhiệm dân sự của bị cáo (do chị Ngô Thị H1 thay mặt bị cáo) đối với bị hại và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại đã thống nhất thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự, cụ thể: Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền là 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng, trong đó đã bồi thường được 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, (Gồm: 50.000.000 đồng tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình và 50.000.000 đồng đã giao cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh N), còn một phần trách nhiệm dân sự là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng thỏa thuận tiếp tục bồi thường khi bản án có hiệu lực pháp luật và khi có đơn đề nghị thi hành án của những người đại diện theo pháp luật của bị hại. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với những thỏa thuận nêu trên. Về trách nhiệm hình sự: Chị N và anh T1 đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo ở ngoài xã hội lao động kiếm tiền nuôi con và thực hiện nốt phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại (50.000.000 đồng) cho những người thừa kế theo pháp luật của bị hại.

Người được ủy quyền (ông Nguyễn Đức H2) của người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Công ty TNHH S) đồng thời là bị đơn dân sự – ông Nguyễn Đức H2 nêu quan điểm: Tại phiên tòa ông H2 xác nhận tại biên bản thỏa thuận ngày 20/9/2024 thể hiện đã thỏa thuận và bồi thường xong trách nhiệm dân sự của ông Nguyễn Đức H2 với tư cách là bị đơn dân sự. Cụ thể đã bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự cho những người thừa kế theo pháp luật của bị hại số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Về vật chứng vụ án là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29H-301.57 nhãn hiệu CNHTC, loại xe: Tải tự đổ, màu sơn: Xanh, số máy: 160307027817, số khung: XSA7GN124155 tình trạng đã qua sử dụng ông H2 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho ông H2 là người thuê xe của Công ty TNHH S (là chủ sở hữu hợp pháp) để ông sửa chữa, khắc phục phương tiện trả lại cho chủ sở hữu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Ngô Thị H1: Số tiền bị cáo H tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho những người thừa kế theo pháp luật của bị hại mà chị H1 đứng ra bồi thường, là tiền chị H1 đi vay mượn để bị cáo bồi thường thiệt hại nhằm giải quyết khó khăn cho gia đình bị hại. Là vợ của bị cáo nên chị H1 đã tự thỏa thuận với bị cáo giải quyết trong gia đình là anh H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên sau khi chấp hành xong phải đi làm để lấy tiền trả nợ khoản tiền 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng chị H1 đã vay mượn và tiếp tục bồi thường thiệt hại nên tại phiên tòa chị chưa yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H phải hoàn trả lại cho chị H1, cũng không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết tại phiên tòa này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình thực hiện quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng và luận tội đối với bị cáo:

Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do bị cáo Nguyễn Thanh H không quan sát khi chuyển hướng xe ô tô, không nhường đường cho người và phương tiện tham gia giao thông đi xe đạp đi cùng hướng. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội là nghiêm trọng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, những người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Thanh H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng. Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được ở ngoài xã hội đi làm nuôi các con đang tuổi căn học, trả nợ số tiền đã vay mượn bồi thường và trả nốt số tiền cần bồi thường cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 30/5/2024, Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô BKS: BKS 29H-301.57 nhãn hiệu CNHTC, loại xe: Tải tự đổ, màu sơn: Xanh, số máy: 16037027817, số khung: XSA7GN124155 di chuyển từ Công ty TNHH N1 thuộc phường T, TP . đi đến bãi cát T thuộc tổ A, phường T, TP ., theo đường Quốc lộ 70B ra đường T rẽ trái vào đường H, khi di chuyển cách đầu cầu H khoảng 20 mét thấy bà Nguyễn Thị Q điều khiển xe đạp đi phía trước cùng chiều. Khi đi đến khu vực đầu C thuộc địa phận Tổ A, phường T, TP H, H điều khiển xe ôtô chuyển hướng rẽ phải vào đường Đ, do không chú ý quan sát và chủ quan nghĩ rằng bà Q đã điều khiển xe đạp đi qua ngã tư nên H đã chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, dẫn đến bánh trước bên phải xe ô tô BKS 29H-301.57 điều khiển va chạm vào xe đạp hậu quả dẫn đến bà Q bị ngã xuống đường và bị bánh xe phía sau bên phải xe ôtô BKS 29H-301.57 chèn qua người làm bà Q tử vong tại hiện trường.

Xét hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông và hậu quả như trên với phần lỗi hoàn toàn của bị cáo, hành vi đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng con người. Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình xét thấy:

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên hành vi thuộc nhân thân của bị cáo đã thực hiện từ năm 2002 (cách đây 22 năm) và đã được xóa án tích, bị cáo sinh ra và lớn lên trong gia đình hoàn cảnh mẹ bị cáo nuôi con đơn thân, bị cáo trình độ học vấn thấp, do vậy nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Xét về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình tích cực bồi thường thiệt hại, thực hiện trách nhiệm dân sự xong số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, và thỏa thuận với gia đình bị hại tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tiếp số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người đại diện theo pháp luật của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS.

Đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, để bị cáo ở ngoài xã hội lao động kiếm tiền nuôi con và bồi thường nốt phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bị hại; bị cáo đầu thú. Hội đồng xét xử xem xét đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS khi lượng hình.

Bên cạnh đó, xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh H có nơi cư trú ổn định, rõ ràng tại xóm T, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt tù có điều kiện, không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, để bị cáo bên ngoài lao động, cải tạo và thử thách bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chỉ có nghề lái xe là nghề nghiệp duy nhất kiếm sống, bị cáo vi phạm lần đầu về tội giao thông, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

01 (một) xe ôtô BKS 29H-301.57 nhãn hiệu CNHTC, loại xe: Tải tự đổ, màu sơn: Xanh, số máy: 160307027817, số khung: XSA7GN124155 tình trạng đã qua sử dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu cua Công ty TNHH S cho ông Nguyễn Đức H2 thuê bằng 1 hợp đồng và được Công ty TNHH S ủy quyền cho ông H2 tham gia tố tụng. Do vậy ông Nguyễn Đức H2 là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nêu trên. Vật chứng đã được xem xét xong đảm bảo cho việc giải quyết vụ án; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số AD23/ 0012280; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ký hiệu No: EA 1499261 loại phương tiện ô tô tải biển đăng ký 29H-301.57; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp ngày 07/5/2024; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 683990 ngày 24/10/2019 bản sao chứng thực hiện đang lưu trữ theo hồ sơ vụ án, cần trả lại cho ông Nguyễn Đức H2 tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc thanh lý hợp đồng với công ty theo quy định của Bộ luật dân sự.

- 01 (Một) chiếc xe đạp, loại xe: Mini-Nữ, màu sơn: Xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản của bị hại đã hư hỏng một số bộ phận nhưng còn giá trị sử dụng. Do vậy cần trả lại cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh N.

- 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn Thanh H là giấy phép lái xe của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

[6] . Về trách nhiệm dân sự:

Những người đại diện theo pháp luật của bị hại và bị đơn dân sự (do vợ là Nguyễn Thị M được ủy quyền) trước khi mở phiên tòa đã thỏa thuận và thực hiện xong về toàn bộ trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa bị đơn dân sự là ông Nguyễn Đức H2 đã xác nhận có ủy quyền cho vợ và đã bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự đối với gia đình bị hại và có biên bản thỏa thuận thỏa thuận xong toàn bộ trách nhiệm dân sự với bị đơn những người đại diện theo pháp luật của bị hại số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, ông H2 và bị cáo không đề nghị giải quyết thêm nội dung gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ghi nhận đã thỏa thuận xong toàn bộ trách nhiệm bồi thường của bị đơn dân sự.

Còn đối với trách nhiệm dân sự của bị cáo (do chị Ngô Thị H1 thay mặt bị cáo và được sự đồng ý của bị cáo) đối với bị hại và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại đã thống nhất thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự, cụ thể: Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại toàn bộ thiệt hại và cấp dưỡng cho người phụ thuộc của bị hại số tiền là 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng, trong đó đã bồi thường được 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng (Gồm: 50.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình và 50.000.000 đồng đã giao cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh N), còn một phần trách nhiệm dân sự là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng thỏa thuận bị cáo H tiếp tục bồi thường khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của những người đại diện theo pháp luật của bị hại. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với những thỏa thuận nêu trên. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Khoản 1 điều 584, 585, Điều 591, Điều 601 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Nguyễn Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày 23/9/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

  • - Trả lại cho ông Nguyễn Đức H2 01 (một) xe ôtô BKS 29H-301.57 nhãn hiệu CNHTC, loại xe: Tải tự đổ, màu sơn: Xanh, số máy: 160307027817, số khung: XSA7GN124155, tình trạng đã qua sử dụng (Khi giao nhận không kiểm tra tình trạng xe và bên trong xe);
  • - Trả lại cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh N 01 (Một) chiếc xe đạp, loại xe: Mini-Nữ, màu sơn: Xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng (Khi giao nhận xe đã bị cong vênh, hư hỏng do bị tai nạn giao thông);
  • Hai vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 146/BB/24 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình;
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Đức H2 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số AD23/ 0012280; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ký hiệu No: EA 1499261 loại phương tiện ô tô tải biển đăng ký 29H-301.57; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp ngày 07/5/2024; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 683990 ngày 24/10/2019 bản sao chứng thực hiện đang lưu trữ theo hồ sơ vụ án;
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (Một) giấy phép lái xe số/No: 170075000406 ngày 20/5/2020 mang tên Nguyễn Thanh H hiện đang lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

3. Về Trách nhiệm dân sự:

- Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Thanh H và những người đại diện theo pháp luật của bị hại là anh Nguyễn Thanh T1 và chị Nguyễn Thị Thanh N toàn bộ trách nhiệm dân sự (thiệt hại vật chất, cấp dưỡng cho người phụ thuộc bị hại là anh Nguyễn Tiến D; thiệt hại tinh thần và các chi phí khác) số tiền là 150.000đ (Một trăm năm mươi triệu) đồng. Xác nhận bị cáo Nguyễn Thanh H đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng (Trong đó 50.000.000 đồng chị Ngô Thị H1 đã thay bị cáo giao trực tiếp cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại và 50.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000180 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình). Bị cáo Nguyễn Thanh H còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Những người đại diện theo pháp luật của bị hại được nhận số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000180 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án.

- Công nhận bị đơn dân sự và những người đại diện theo pháp luật của bị hại đã thỏa thuận và thực hiện xong trách nhiệm dân sự.

4. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Bùi Văn Thức Bùi Thanh Nông

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đà Giang

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp Hòa Bình;
  • - VKSND TP Hòa Bình;
  • - Bị cáo; Đại diện thep PL của Bị hại;
  • - Người có LN & NVLQ; bị đơn dân sự;
  • - Cơ quan điều tra – CA TPHB;
  • - Cơ quan THA hình sự - TPHB;
  • - Chi cục THA dân sự TPHB;
  • - UBND xã Hợp Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 127/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 18 tháng cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger