Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN

10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày: 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Hải;
  2. Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

(tên gọi khác: không có), sinh ngày: 28/12/1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12, con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1955); Hoàn cảnh gia đình: 01 con sinh năm 2001; Tiền sự: Không có.

Tiền án:

  • Ngày 26/01/2007 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 117/2007/HSST, chấp hành án đến ngày 30/8/2011 hết án tha, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung ngày 16/6/2014.

  • Ngày 04/6/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 45/2014/HSST, chấp hành án đến ngày 05/02/2017 hết án tha, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 03/10/2014.

  • Ngày 11/7/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Tp . xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 69/2018/HSST, chấp hành án đến ngày 20/01/2023 hết án tha, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/10/2018.

Nhân thân: Ngày 02/10/2017, bị Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Tp ra Quyết định số 452/QĐ-UB áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 29/12/2017.

Bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 05 phút, ngày 08/3/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H phát hiện Nguyễn Văn T đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 59H2-189.56 tại trước nhà số A Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ tuần tra phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác của T đang mặc có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma túy cất giữ để sử dụng. Công an P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T, chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an P xử lý.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận P trưng cầu giám định tinh thể không màu đã thu giữ của T. Tại Bản kết luận giám định số 3366/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 4,9071gram, loại Methamphetamine”.

Kết quả giám định nước tiểu của Nguyễn Văn T “Dương tính” với chất ma túy.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P, Nguyễn Văn T khai nhận: do nghiện ma túy, khoảng 21 giờ 15 ngày 08/3/2024 T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 59H2-189.56 đến khu vực đường B, Quận A gặp một người tên M (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua “01 hộp 05” ma túy với giá 1.500.000 đồng, để về sử dụng. Một đồng ý và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực trước Học viện H1, Quận A. T đi đến trước số nhà A Đường C, Phường A Quận A đứng đợi. Khoảng 10 phút sau, M điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria (không rõ biển số) tới giao cho T 01 (một) gói ma túy đá rồi bỏ đi. T nhận gói ma túy bỏ vào trong túi áo khoác đang mặc và chuẩn bị rời đi thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H bắt giữ.

- Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong chứa 4,7941g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có số imei: 375368584054597 và có số thuê bao: 0906311057 – là tài sản của bị can T, không liên quan đến vụ án.

  • 01 (một) xe mô tô biển số: 59H2-18956, số khung RLHJK0353PZ 103814, số máy JK03E7803878. Kết quả giám định xe có số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do Nguyễn Văn T là chủ sở hữu, T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội.

  • 01 (một) áo khoác màu xanh đen, T sử dụng để cất giữ ma túy.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Tại Cáo trạng truy tố số 115/CT-VKSQ10 ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024, miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 05 phút, ngày 08/3/2024, tại trước số nhà A đường C T, Phường A Quận A bị cáo T có hành vi cất giữ trái phép 4,9071gram ma túy thể rắn, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa đc xóa án nhưng lại tiếp tục hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội. Mặt khác bị cáo có quá trình nhân thân xấu, vừa chấp hành xong hình phạt, chưa đc xóa án nhưng lại tiếp tục tục hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

V tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong chứa 4,7941g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) nên tịch thu tiêu hủy;

  • 01 (một) áo khoác màu xanh đen, T sử dụng để cất giữ ma túy, không có giá trị nên tiêu hủy.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có số imei: 375368584054597 và có số thuê bao: 0906311057 là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại.

  • 01 (một) xe mô tô Vision, màu xám đen, biển số: 59H2-18956, số khung RLHJK0353PZ 103814, số máy JK03E7803878. Kết quả giám định xe có số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do Nguyễn Văn T là chủ sở hữu, T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

Miễn hình phạt bổ sung.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Tiêu hủy:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong chứa 4,7941g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

  • 01 (một) áo khoác màu xanh đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có số imei: 375368584054597 và có số thuê bao: 0906311057.

- Tịch thu, sung nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô Vision, màu xám đen, biển số: 59H2-18956, số khung RLHJK0353PZ103814, số máy JK03E7803878.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 71/QĐ-VKS ngày 06/8/2024)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (1)
  • - Lưu: VT, THADS, Hồ sơ. (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger