Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:127/2023/HS-ST

Ngày: 15-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đình Khôi.
  2. Bà Phạm Thị Liễu.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2023/TLST - HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Thanh H, sinh năm 1997 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T, sinh năm 1970; vợ: Đậu Thị Huyền T1, sinh năm 1997, con: Có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (Có mặt)

- Bị hại: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1981 (Có mặt).

Địa chỉ : Số B, Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Chị Đậu Thị Huyền T1, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Bà Vũ Thị T3, sinh năm 1958 (Có mặt).
  6. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  7. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (Có mặt).
  8. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  9. Chị Trần Thị T4, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
  10. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh H, sinh năm 1997, ngụ ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, sống chung với nhau như vợ chồng với Đậu Thị Huyền T1, sinh năm 1997, ngụ ấp T, xã T, huyện T.

Buổi chiều ngày 05/5/2023, nhà bà Vũ Thị T3 (hàng xóm nhà T1) có đổ đất làm lấp đường đi chung và lấp đất vào đồng hồ nước nhà Trâm, sau đó hai bên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi dẫn đến xô xát giữa T1, bà T3 và bà Phạm Thị T2 (con bà T3), lúc này T1 có gọi điện cho H đến để can ngăn thì hai bên cự cãi qua lại, thách thức đánh nhau và được Công an xã T đến hòa giải.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/5/2023, sau khi nhậu xong, Trần Thanh H nhờ Nguyễn Duy L chở về nhà Đậu Thị Huyền T1. Khi đi ngang qua tiệm làm tóc của bà Phạm Thị T2, H nhớ lại sự việc mâu thuẫn xảy ra vào buổi chiều ngày 05/5/2023 tại nhà T1 nên H chửi, đe dọa sẽ đánh T2. Sau đó, H về nhà T1 rồi đi xuống bếp lấy 02 con dao loại Thái Lan chạy sang nhà bà T3, H thấy Nguyễn Văn Đ (con nuôi bà T3) nên đi đến đè Đ xuống dưới nền nhà dùng dao hù dọa sẽ đâm Đ rồi bỏ đi sang tiệm tóc của bà T2. Tại đây, H chửi T2 rồi cầm 02 con dao đâm T2, T2 né tránh thì bị ngã xuống nền nhà, tay phải va vào ghế gỗ trong tiệm, H tiếp tục dùng dao đâm T2 thì trúng vào đùi phải gây thương tích. Sau đó, bà T2 vùng dậy bỏ chạy qua nhà hàng xóm kêu cứu còn H đi về nhà T1 ném 02 con dao xuống suối phía sau nhà rồi nhờ L chở đi sơ cứu vết thương ở tay do lúc dùng dao đâm bà T2 bị lưỡi dao cứa vào tay gây thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hậu quả: Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0501/KLTTCT-TTPYĐN ngày 06/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của Phạm Thị T2 như sau:

“1. Các kết quả chính: (khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)

  • 02 sẹo đùi phải.
  • 02 vết biến đổi sắc tố da đùi phải.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị T2 - 1981 tại thời điểm giám định là 03%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • Vật gây thương tích:
    • Thương tích tay phải: Vật tày.
    • Thương tích đùi phải: Vật sắc hoặc vật sắc nhọn.
  • Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh tại Bệnh viện nơi bệnh nhân nằm điều trị có tổn thương mẻ 1/3 dưới xương trụ phải và gãy mỏm trâm trụ phải hay không? Nếu có thì gãy cũ hay gãy mới, nếu gãy mới đề nghị trưng cầu giám định bổ sung.”

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 0897/KLTTCT-TTPYĐN ngày 13/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của Phạm Thị T2 như sau:

“1. Các kết quả chính: (khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng)

  • Đã được Trung tâm P giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% tại bản kết luận số 0501/KLTTCT-TTPYĐN ngày 06/6/2023.

Phần giám định bổ sung:

  • Gãy mỏm trâm trụ phải không xác định được thời gian. Tỷ lệ 06%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị T2 - 1981 tại thời điểm giám định bổ sung là 09%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại Bản cáo trạng số 136/CT-VKS-HS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và đề xuất mức án đối với bị cáo Trần Thanh H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 31.000.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 31.000.000 đồng cho cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Đối với 02 con dao loại dao Thái Lan là hung khí Trần Thanh H sử dụng để gây thương tích cho Phạm Thị T2: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, H đã ném 02 con dao xuống suối phía sau nhà Đậu Thị Huyền T1, hiện không thu giữ được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định truy tìm vật số 12/QĐ-TT ngày 14/05/2023.

Đối với Nguyễn Duy L không có sự bàn bạc hoặc tham gia cùng Trần Thanh H gây thương tích cho bà Phạm Thị T2 nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

- Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa:.

- Bị hại chị Phạm Thị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thiệt hại về sức khỏe, tổng số tiền là 31.000.000 đồng, còn về mức hình phạt bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo H thừa nhận hành vi cố ý gây thương tích như Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình, bị cáo đồng ý bồi

thường thiệt hại về sức khỏe cho chị T2 số tiền là 31.000.000 đồng, bị cáo nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo tại địa phương và ổn định cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không đưa ra đồ vật, tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/5/2023 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Thanh H có hành vi dùng 02 con dao loại Thái Lan (là hung khí nguy hiểm) đâm bà Phạm Thị T2 làm bà T2 ngã xuống nền nhà, tay phải đập vào ghế gỗ làm gãy mỏm trâm trụ phải và đâm vào đùi phải chị T2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 09%.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 136/CT-VKS-HS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

[3]. Xét thấy, sức khỏe là vốn quý của con người được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo lại dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn không những đã trực tiếp gây thương tích cho chị T2 mà còn nguy hiểm cho xã hội; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên Tòa án phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, lại là lao

động chính trong đình, có con đang còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 31.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu bồi thường số tiền nào khác, bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 31.000.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

Để đảm bảo cho việc bồi thường khắc phục hậu quả của mình gây ra, trước khi đưa vụ án ra xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp 31.000.000₫ (Ba mươi mốt triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, theo Biên lai thu tiền số: 0000206 ngày 14/11/2023.

[6] Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mặt khác các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về các biện pháp tư pháp: Đối với 02 con dao loại dao Thái Lan là hung khí Trần Thanh H sử dụng để gây thương tích cho Phạm Thị T2: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, H đã ném 02 con dao xuống suối phía sau nhà Đậu Thị Huyền T1, hiện không thu giữ được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định truy tìm vật số 12/QĐ-TT ngày 14/05/2023.

[8] Những vấn đề khác: Đối với Nguyễn Duy L không có sự bàn bạc hoặc tham gia cùng Trần Thanh H gây thương tích cho bà Phạm Thị T2 nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018.
  • Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
  • Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án này đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa bị cáo và bị hại, cụ thể: Bị cáo Trần Thanh H tự nguyện bồi thường cho bị hại Phạm Thị T2 số tiền 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu đồng), số tiền này bị cáo H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo biên lai số 0000206 ngày 14/11/2023. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người bị hại được nhận lại số tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND huyện Tân Phú;
  • Công an huyện Tân Phú;
  • Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Bị cáo, bị hại;
  • Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 127/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H bị xét xử về tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger