|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2023/HS-ST Ngày 19 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa : Ông Phạm Viết Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Sơn M, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Sơn H và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 30/7/2023. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1986 (đã chết)
Nơi cư trú: TDP V, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Nguyễn Văn X1, sinh năm 1956 (bố đẻ anh X). Vắng mặt.
Nơi cư trú: TDP V, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Công ty TNHH V
Địa chỉ: Số I ngách E N, phường G, quận L, TP .
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đình C, sinh năm 1953. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường S, quận L, TP .
+ Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1986. Vắng mặt.
Nơi cư trú: TDP V, phường X, thị xã N, Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
+ Anh Lê Văn B, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Nơi cư trú: TDP T, phường N, thị xã N, Thanh Hóa.
+ Anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Sơn M, có giấy phép lái xe hạng FC, hiện đang hợp đồng lái xe ô tô cho Công ty TNHH V, có địa chỉ tại số I, ngách E N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội
Khoảng 21 giờ 38 phút ngày 21/12/2022, Lương Sơn M điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36 kéo theo Rơ mooc BKS 29R - 401.83 của Công ty L1 trên Quốc lộ A theo hướng Nam - Bắc trên làn đường xe cơ giới tiếp giáp với làn đường xe thô sơ và người đi bộ thuộc phần đường bên phải theo hướng đi. Khi đi đến K + 300 Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố D, phường X, thị xã N, Thanh Hóa, đây là đoạn đường được rải nhựa bằng phẳng, được phân chia thành hai phần đường cho phương tiện lưu thông theo hai chiều riêng biệt được phân cách bởi dải phân cách cứng, mỗi phần đường có 02 làn đường xe cơ giới và 01 làn đường xe thô sơ và người đi bộ. Cùng lúc này có anh Nguyễn Văn C1, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS 36C1-050.72 chở sau là anh Nguyễn Văn X đi cùng chiều phía trước xe ô tô của M ở trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ và phía trước bên trái cũng có 01 xe ô tô con màu đỏ đang lưu thông cùng chiều trên làn đường xe cơ giới tiếp giáp với dải phân cách cứng. Do muốn vượt chiếc xe ô tô con nên M đạp ga tăng tốc cho xe ô tô vượt lên phía trước, nhưng do ô tô con đi sát với làn đường M đang lưu thông nên M buộc phải điều khiển xe lách vượt về bên phải lấn sang làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ dẫn đến mặt ngoài lốp ngoài hàng lốp thứ hai bên phải đầu kéo va chạm với mặt sau ngoài dưới đầu mút tay nắm bên trái xe mô tô do anh C1 điều khiển, xảy ra tai nạn giao thông, làm xe mô tô và anh C1, anh X ngã xuống đường, anh X bị mặt lăn và má lốp ngoài hàng lốp đầu tiên bên phải rơ moóc tỳ đè qua làm anh X tử vong tại chỗ, anh C1 bị thương nhẹ không phải đi điều trị, xe mô tô bị hư hỏng.
Do không biết tai nạn xảy ra nên M vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường B, rồi rẽ phải và dừng lại ở dãy quán ven đường để tìm chỗ ăn tối, thì có anh Nguyễn Hữu T1 và anh Lê Văn B1 đi xe ô tô BKS 36H - 036.29 đến dừng lại trước xe ô tô đầu kéo và nói cho M biết xe ô tô đầu kéo do M điều khiển vừa gây tai nạn chết người nhưng M không thừa nhận nên anh T1 đề nghị M chờ lực lượng Công an đến giải quyết, M đồng ý.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đến yêu cầu M điều khiển xe ô tô đầu kéo theo rơ moóc Công an thị xã N để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 196/GĐPY-PC09 ngày 28/12/2022, Phòng K - Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn X do bị "Đa chấn thương”.
Tại Bản kết luận giám định số 318/KL-KTHS ngày 10/01/2023, Phòng K (PC09) Công an tỉnh T kết luận:
"1. Va chạm giữa xe ôtô đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R-401.83 với xe môtô BKS: 36C1 – 050.72:
- - Điểm va chạm đầu tiên: Mặt ngoài lốp ngoài hàng lốp thứ hai tính từ trước về sau bên phải đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R – 401.83 (ảnh 6,7,8) với mặt sau ngoài dưới đầu mút tay nắm bên trái xe môtô BKS: 36C1 – 050.72 (ảnh 23).
- - Tại thời điểm va chạm xe ô tô đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R – 401.83 chuyển động cùng chiều, ở bên trái và có vận tốc lớn hơn so với xe môtô BKS: 36C1 – 050.72.
- - Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết xước (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường theo hướng từ Nghệ An đi Hà Nội.
- - Không đủ cơ sở xác định vận tốc của các phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
2. Va chạm giữa xe ô tô đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R – 401.83 với nạn nhân Nguyễn Văn X:
- - Dấu vết trên quần áo và người nạn nhân Nguyễn Văn X phù hợp do va chạm với mặt lăn, má ngoài lốp ngoài hàng lốp đầu tiên bên phải rơ mooc tính từ trước về sau xe ôtô đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R – 401.83 (ảnh 11,12).
- - Vị trí va chạm giữa xe ô tô đầu kéo BKS: 29H – 810.36 kéo theo rơ mooc BKS: 29R – 401.83 với nạn nhân Nguyễn Văn X nằm ngay trước vị trí (4,5), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường theo hướng từ Nghệ An đi Hà Nội.
Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên.”
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trưng cầu giám định GEN (ADN) đối với mẫu vật là các vật chất bám dính trên xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36, kéo theo Rơ mooc BKS 29R- 401.83 (Mẫu M, Mẫu M3) và Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Văn X được thẩm thấu vào mảnh khăn.
Tại Bản kết luận giám định về gen (ADN) số 520/KL – KTHS, ngày 30/01/2023, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
"1. Chất màu nâu đỏ, chất nhầy của các mẫu ký hiệu M2 và M3 có kiểu gen (ADN) của Nguyễn Văn X.
2. Lưu kiểu gen (ADN) của Nguyễn Văn X tại Phòng K, Công an tỉnh T”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trưng cầu Trung tâm P giám định mức độ tổn tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn C1 do tai nạn giao thông gây ra nhưng anh C1 từ chối giám định.
Đối với hành vi của Lương Sơn M đã điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường sau khi gây tai nạn, quá trình điều tra xác định khi M điều khiển xe vượt xe ô tô cùng chiều, M không biết đã có va chạm và gây tai nạn đối với xe mô tô do anh C1 điều khiển nên hành vi của của M không phải là bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.
Đối với Nguyễn Văn C1, khi điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn trong hởi thở vượt quá mức cho phép (là 0,308 mg/l) đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với C1 theo quy định pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ.
- - 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36 kéo theo Rơ mooc BKS 29R - 401.83 cùng các giấy tờ xe liên quan và 01 giấy phép lái xe hạng FC của Lương Sơn M;
- - 01 xe mô tô BKS 36C1 - 050.72 cùng các giấy tờ xe liên quan và 01 giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Văn C1;
Sau khi tiến hành khám nghiệm và làm rõ nguồn gốc phương tiện, giấy tờ đã thu giữ, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho ông Bùi Đình C; trả lại chiếc xe mô tô BKS 36C1- 050.72 và giấy tờ cho anh Nguyễn Văn C1.
Đối với giấy phép lái xe hạng A1 của anh Nguyễn Văn C1, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an thị xã N để xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Đối với giấy phép lái xe hạng FC mang tên Lương Sơn M được đưa vào hồ sơ vụ án và chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Lương Sơn M đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Văn X. Đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu, đề nghị thêm gì khác về dân sự, đồng thời có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKSNS, ngày 18/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Lương Sơn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lương Sơn M, phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền là 180.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét.
Đối với thiệt hại của anh Nguyễn Văn C1, anh C1 từ chối giám định và không có yêu cầu đề nghị gì, nên không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Các vật chứng của vụ án gồm: - 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36 kéo theo Rơ mooc BKS 29R - 401.83 cùng các giấy tờ xe liên quan Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho ông Bùi Đình C; 01 xe mô tô BKS 36C1 - 050.72 cùng các giấy tờ xe liên quan Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô BKS 36C1- 050.72 và giấy tờ cho anh Nguyễn Văn C1.
Đối với giấy phép lái xe hạng A1 của anh Nguyễn Văn C1, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an thị xã N để xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Việc xử lý các vật chứng trên của cơ quan CSĐT đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
Đối với giấy phép lái xe hạng FC mang tên Lương Sơn M đề nghị trả lại cho bị cáo.
-Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 38 phút ngày 21/12//2022, tại Km 371 + 300m Quốc lộ A, thuộc tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lương Sơn M có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36, kéo theo Rơ mooc BKS 29R - 401.83 đã đi không đúng làn đường khi vượt xe, lấn sang phần làn đường xe thô sơ và người đi bộ đã va chạm với xe mô tô BKS 36C1- 050.72 do anh Nguyễn Văn C1 điều khiển chở theo anh Nguyễn Văn X. Hậu quả anh X bị ngã xuống đường, bị lốp ngoài bên phải phía trước rơ moóc của xe đầu kéo tỳ đè qua tử vong tại chỗ.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của Lương Sơn M không đi đúng làn đường khi vượt xe vi phạm Điều 13 và Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông, làm chết 01 người.
Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với thiệt hại của anh Nguyễn Văn C1, anh C1 từ chối giám định và không có yêu cầu đề nghị gì, nên không xem xét
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; Bị cáo có bố đẻ là ông Lương Sơn H là Thương binh nặng hạng A, 81%; người đại diện của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về bồi thường thiệt hại: bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng đại diện của bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Nên HĐXX không xem xét.
[6] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
- - 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29H - 810.36 kéo theo Rơ mooc BKS 29R - 401.83 cùng các giấy tờ xe liên quan Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho anh Bùi Đình C (sinh năm 1953, trú tại tổ A, phường S, quận L, thành phố Hà Nội - là người được chủ phương tiện ủy quyền nhận xe); 01 xe mô tô BKS 36C1 - 050.72 cùng các giấy tờ xe liên quan Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô BKS 36C1- 050.72 và giấy tờ cho anh Nguyễn Văn C1.
- - Đối với phép lái xe hạng A1 của anh Nguyễn Văn C1, khi điều khiển xe môtô có nồng độ cồn trong hởi thở vượt quá mức cho phép (là 0,308 mg/l) đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ nên Cơ quan điều tra đã chuyển Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an thị xã N để xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Các vật chứng trên, Cơ quan CSĐT Công an thị xã N đã xử lý đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 15/8/2018 cho Lương Sơn M; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Sơn M, phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Xử phạt: L (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về bồi thường thiệt hại: Công nhận bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).
5. Xử lý vật chứng: khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 15/8/2018
6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 127/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 127/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
