Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 127/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Hùng

Ông Nguyễn Văn Đông

ảng Phong - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Quỳnh T; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Tạ Hữu H; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Quỳnh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Tạ Hữu H do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng vào năm 2011. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng gia đình anh H ở thôn B, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, chị và anh H đã được Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 628/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019. Sau đó, vì các con nên chị và anh H đã quay lại chung sống cùng nhau và có đăng ký kết hôn lại tại UBND xã Đ, huyện T ngày 27 tháng 7 năm 2022. Sau khi kết hôn lại, chị và anh H chung sống tại nhà mẹ đẻ chị ở thôn G, xã T, huyện T nhưng vợ chồng chị hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 10 năm 2023 thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H chơi bời, cờ bạc, vay nợ làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh H không tiếp thu sửa chữa, nên hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 3 năm 2023 đến nay anh H đã về cư trú cùng bố, mẹ đẻ anh H ở thôn B, xã Đ, huyện T. Từ khi bỏ đi đến nay, thỉnh thoảng anh H có về nhà mẹ đẻ chị nhưng chỉ là để thăm con chung không có mục đích để vợ chồng đoàn tụ. Hiện tại, chị và anh H sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là Tạ Bảo K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2011; Tạ Hữu V, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2015 và Tạ Việt H1, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2022. Các con chung hiện tại do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Các con chung đều đang học tại trường thuộc xã T, huyện T, chị còn được sự giúp đỡ của mẹ đẻ chị trong việc chăm sóc, đưa đón con chung đi học. Chị đề nghị Tòa án giao ba con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Tạ Hữu H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H để anh H đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Trần Thị Quỳnh T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Quỳnh T được ly hôn anh Tạ Hữu H. Về con chung: Giao cho chị T nuôi dưỡng các con chung Tạ Bảo K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2011; Tạ Hữu V, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2015 và Tạ Việt H1, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2022 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Chị Trần Thị Quỳnh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Quỳnh T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Tạ Hữu H. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Tạ Hữu H hiện đang cư trú tại thôn B, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Tạ Hữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Tạ Hữu H.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Quỳnh T và anh Tạ Hữu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27 tháng 7 năm 2022, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Tuy anh Tạ Hữu H không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh H về việc chị Trần Thị Quỳnh T xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Trần Thị Quỳnh T và anh Tạ Hữu H đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị Quỳnh T và anh Tạ Hữu H là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Trần Thị Quỳnh T đối với anh Tạ Hữu H.

[5] Về con chung: Chị Trần Thị Quỳnh T và anh Tạ Hữu H có ba con chung là Tạ Bảo K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2011; Tạ Hữu V, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2015 và Tạ Việt H1, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2022. Chị T có quan điểm đề nghị Tòa án giao ba con chung cho chị nuôi dưỡng. Anh H không có quan điểm về con chung. Các con chung Tạ Bảo KTạ Hữu V có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, hiện tại chị T là công nhân còn anh H tuy là lao động tự do nhưng anh H có thể lao động để có thu nhập nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị T và anh H như nhau. Các con chung hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng đang ổn định và phát triển tốt. Chị T còn được sự giúp đỡ của mẹ đẻ chị T trong việc chăm sóc, đưa đón con chung đi học. Nên để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao ba con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Tạ Hữu H không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[7] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Tạ Hữu H không có quan điểm về tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[8] Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Quỳnh T là nguyên đơn nên chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Quỳnh T và anh Tạ Hữu H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Quỳnh T được ly hôn anh Tạ Hữu H.
  2. Về con chung: Giao các con chung Tạ Bảo K, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2011; Tạ Hữu V, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2015 và Tạ Việt H1, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2022 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến mỗi khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Tạ Hữu H không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
  4. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Tạ Hữu H không có quan điểm về tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Trần Thị Quỳnh T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010705 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Trần Thị Quỳnh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 27 tháng 7 năm 2022);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger