Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Huyền
  2. Ông Quàng Văn Tại

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn M - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 16/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn L; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Ten, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 06/12; con ông: Lường Văn K, sinh năm 1961; con bà: Lò Thị L1, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án: Bị cáo có 03 tiền án: (Bản án số 48/HSST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 15/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 17/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo bản án số 223/2021/HSST quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 06/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 14/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2022/HSST quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (Tái phạm) ngày 21/9/2023 bị cáo trở về địa phương sinh sống, hiện tại chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.

2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy A, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có mặt bào chữa cho bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 19/01/2024, Lường Văn L một mình đi bộ từ nhà ở bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản C, xã Q, huyện T để tìm mua Heroine về sử dụng thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi L mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu xanh với giá 300.000 đồng, sau khi mua được H, L cầm trong lòng bàn tay phải quay về nhà, trên đường đi về nhà L vào bụi cây ven đường dùng dao lam mang theo sẵn chia gói Heroine thành 06 phần sau đó cho vào 06 đoạn ống nhựa dạng ống hút (trong đó 02 đoạn ống nhựa màu xanh, 04 đoạn ống nhựa màu tím) cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc đi về nhà, còn chiếc dao lam L vứt đi ven đường. Đến 12 giờ 05 phút cùng ngày khi L đi đến đường dân sinh thuộc bản Ten, xã Q, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Lường Văn L 06 đoạn ống nhựa có chứa Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 15 giờ 50 phút ngày 19/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột có trong 06 đoạn ống hút nhựa nghi Heroine có khối lượng 0,17 gam, gửi giám định toàn bộ.

Tại Bản kết luận giám định số: 304/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Lường Văn L là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,13 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 84/CT-VKSTG ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 06 đoạn ống hút nhựa (trong đó 04 đoạn ống nhựa màu tím, 02 đoạn ống nhựa màu xanh) và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,13 gam Heroine.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp theo quy định của pháp luật. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.

Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 12 giờ 05 phút, ngày 19/01/2024, tại bản Ten, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, Lường Văn L đã cất giấu trái phép 0,17 gam heroine nhằm mục đích để sử dụng.

Bị cáo phạm tội trong trường hợp có 03 tiền án chưa được xóa án tích: “Bản án số 48/HSST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 15/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 17/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 223/2021/HSST quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 06/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 14/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2022/HSST quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL 37); kết luận giám định (BL 41); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,17 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng, phạm tội trong trường hợp đã bị áp dụng tình tiết tái phạm chưa được xóa án tích lại phạm tội mới. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lường Văn L sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Án tích của bị cáo đã dùng làm tình tiết định khung hình phạt theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản C, xã Q, huyện T, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy. 06 đoạn ống hút nhựa là vật chứng vụ án, xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 06 đoạn ống hút nhựa (trong đó 04 đoạn ống nhựa màu tím, 02 đoạn ống nhựa màu xanh) và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,13 gam Heroine.

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. Về tội danh: Bị cáo Lường Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn L: 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 19/01/2024
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 06 đoạn ống hút nhựa (trong đó 04 đoạn ống nhựa màu tím, 02 đoạn ống nhựa màu xanh) và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,13 gam Heroine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo hồi 10 giờ, ngày 17 tháng 5 năm 2024)

  1. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 17/6/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Công an huyện Tuần Giáo (3);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - THA DS TG, THA HS;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Đình Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM

HỘI THẨM

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Huyền




Quàng Văn Tại




Lê Đình Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 127/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 05 phút, ngày 19/01/2024, tại bản Ten, xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, Lường Văn L đã cất giấu trái phép 0,17 gam heroine nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo phạm tội trong trường hợp có 03 tiền án chưa được xóa án tích: “Bản án số 48/HSST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 15/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 17/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 223/2021/HSST quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đến ngày 06/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 14/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2022/HSST quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger